Nắn dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh
Trong bối cảnh dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt ngưỡng cao so với GDP, điều hành chính sách tiền tệ không còn dừng ở mục tiêu mở rộng quy mô, mà chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt tăng trưởng dư nợ ngay từ đầu năm.
Định hướng xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời gian qua cho thấy dòng vốn tín dụng sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn, ưu tiên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, bán lẻ, tiêu dùng và những khu vực tạo ra giá trị gia tăng bền vững, qua đó góp phần củng cố nền tảng tăng trưởng trung và dài hạn của nền kinh tế.
Thắt chặt có chọn lọc
Thực tế gần đây, việc một số ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất cho vay bất động sản đã thu hút sự chú ý của thị trường. Theo các chuyên gia, đây không phải là động thái đơn lẻ, mà phản ánh rõ nét chủ trương “nắn” dòng vốn, giảm tỷ trọng tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, nhất là bất động sản mang tính đầu cơ, để điều chuyển sang những lĩnh vực được ưu tiên khác, nơi nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng vẫn hiện hữu và có khả năng hấp thụ tốt.
Trong khi dòng vốn vào bất động sản bị kiểm soát chặt chẽ hơn, khu vực sản xuất lại ghi nhận nhu cầu vốn gia tăng cùng nhịp phục hồi đơn hàng. Tại nhà máy sản xuất đũa ăn một lần của Công ty thủ công mỹ nghệ Hoa Lư (Hà Nội), không khí lao động đang khẩn trương hơn bao giờ hết khi doanh nghiệp phải tăng ca để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu đã ký trước nhiều tháng. “Trung bình mỗi tháng chúng tôi xuất khẩu hơn 10 container. Hiện nay, đơn hàng đã có tới hết quý I/2026”, Giám đốc nhà máy Đỗ Đức Dũng cho biết. Để duy trì nhịp sản xuất này, doanh nghiệp cần dòng vốn ổn định nhằm chủ động mua nguyên liệu, không bị động trước biến động thị trường.
Nắm bắt nhu cầu thực của doanh nghiệp, nhiều ngân hàng thương mại đã chủ động tái cấu trúc danh mục cho vay, triển khai các gói tín dụng theo chuỗi sản xuất, theo hệ sinh thái ngành hàng. Cách tiếp cận này không chỉ giúp dòng vốn chảy liền mạch từ đầu vào đến đầu ra, mà còn giúp ngân hàng kiểm soát rủi ro tốt hơn thông qua việc theo dõi dòng tiền thực tế của doanh nghiệp. Theo Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB) Phạm Như Ánh, ngân hàng đang tập trung nguồn lực cho các hộ sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp sản xuất tiêu dùng và xuất khẩu, nhất là trong giai đoạn cao điểm cuối năm, dịp Tết.
Ở góc độ khác, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) Lê Hoàng Tùng khẳng định, định hướng xuyên suốt là tăng trưởng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn hệ thống, hướng dòng vốn vào các lĩnh vực có tác động lan tỏa đối với tăng trưởng kinh tế, thay vì chạy theo quy mô dư nợ.
Định hướng này cũng thể hiện rõ trong điều hành tín dụng năm 2026. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt tăng trưởng dư nợ ngay từ đầu năm, nhất là trong quý I, với mức tăng không vượt quá 25% chỉ tiêu cả năm. So với các năm trước, khi ngân hàng được tự phân bổ tín dụng theo kế hoạch kinh doanh, đây là thay đổi quan trọng nhằm hạn chế tình trạng tín dụng tăng nóng cục bộ, gây áp lực lên thanh khoản, lãi suất và tỷ giá.
Dẫn vốn vào lĩnh vực có tính lan tỏa cao
Theo giới chuyên môn, việc phân bổ tín dụng đều hơn trong năm sẽ góp phần giảm tính mùa vụ của nền kinh tế, tránh tình trạng dòng tiền dồn vào cuối năm như đã từng xảy ra trong nhiều năm qua. Khi dòng tiền không dồn vào một vài thời điểm, nền kinh tế có điều kiện vận hành ổn định hơn, giảm rủi ro biến động vĩ mô và tạo dư địa cho chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt hơn. Tuy nhiên, thách thức đặt ra là khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào sức khỏe doanh nghiệp và nhu cầu thực của thị trường. Do đó, điều hành tín dụng không thể tách rời các chính sách tài khóa, đầu tư công và cải cách môi trường kinh doanh.
Một thực tế được chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ chỉ ra là tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 50% tổng nguồn vốn của nền kinh tế, trong khi những nguồn vốn còn lại như thị trường trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư, đầu tư công, FDI và kể cả vốn tự có của doanh nghiệp tư nhân hằng năm vẫn phát triển chưa tương xứng. Việc phụ thuộc quá lớn vào vốn ngân hàng không chỉ tạo áp lực cho hệ thống tài chính, mà còn làm méo mó phân bổ nguồn lực.
Do đó, để sử dụng hiệu quả từng đồng vốn, giới chuyên gia cho rằng về dài hạn cần giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, phát triển mạnh hơn các kênh dẫn vốn khác. Khi cấu trúc nguồn vốn trở nên cân bằng hơn, tín dụng ngân hàng sẽ có điều kiện tập trung sâu hơn vào những lĩnh vực có hệ số lan tỏa cao như chế biến chế tạo, xuất khẩu, nông nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự án chuyển đổi số, xanh hóa sản xuất,...
Thực tế cho thấy, khi dòng vốn được đưa đến đúng địa chỉ, hiệu quả mang lại rất rõ nét. Tại nhiều hợp tác xã nông nghiệp, dòng vốn tín dụng đã được sử dụng để tái cấu trúc phương thức canh tác theo hướng xanh, bền vững. Mô hình lúa, rươi, cáy hữu cơ tại hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp An Thanh (xã Chí Minh, thành phố Hải Phòng) là một minh chứng rõ nét cho điều này khi vốn được đầu tư đúng chỗ: Từ thủy lợi, cải tạo đồng ruộng đến kết nối tiêu thụ, giá trị gia tăng trên mỗi ha đất nông nghiệp có thể tăng gấp nhiều lần so với sản xuất truyền thống.
Trong bối cảnh nhiều biến số trong và ngoài nước vẫn tiềm ẩn rủi ro, định hướng điều hành thận trọng nhưng linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước cho thấy sự nhất quán trong mục tiêu: ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng bằng cách đưa dòng vốn tín dụng đến đúng những khu vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng bền vững cho nền kinh tế.
Năm 2026, Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức thấp hơn so với năm 2025. Trong bối cảnh nhiều biến số trong và ngoài nước vẫn tiềm ẩn rủi ro, định hướng điều hành thận trọng nhưng linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước cho thấy sự nhất quán trong mục tiêu: ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng bằng cách đưa dòng vốn tín dụng đến đúng những khu vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng bền vững cho nền kinh tế.
Nhiều chuyên gia nhận định, với mức tăng trưởng tín dụng dự kiến khoảng 15%, vấn đề không nằm ở con số tuyệt đối, mà ở hiệu quả phân bổ. Nếu dòng vốn được dẫn dắt đúng hướng vào sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, tiêu dùng, kinh tế xanh và chuyển đổi số, thì mỗi đồng vốn tín dụng sẽ phát huy hệ số lan tỏa cao hơn, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/nan-dong-von-vao-san-xuat-kinh-doanh-post943367.html












