Đôi tay giữ nghề, giữ hồn văn hóa Hrê
Trên gác bếp nhà ông Đinh Văn Xếp ở xã Sơn Mai (Quảng Ngãi), những chiếc rổ, nia, sàng, gùi… được xếp ngay ngắn. Mỗi vật dụng mang một hình dáng, kích thước khác nhau, nhưng đều được tạo nên từ tre, nứa, mây bằng đôi bàn tay khéo léo và sự kiên trì của người thợ.

Ông Đinh Văn Xếp (bên trái) giới thiệu những sản phẩm đan lát truyền thống của đồng bào Hrê
Từ nan tre đến những vật dụng thân thuộc
Từ bao đời nay, tre, nứa, mây là những nguyên liệu gần gũi với đời sống của đồng bào Hrê. Những cây tre được chọn, chặt về rồi trải qua nhiều công đoạn mới trở thành những thanh nan mềm, dẻo, đều và chắc.
Nhìn những sản phẩm đan lát hoàn chỉnh, ít ai hình dung để có được một chiếc rổ hay cái gùi, người thợ phải dành nhiều thời gian chuẩn bị nguyên liệu. Tre sau khi mang về phải cưa thành từng đoạn, chẻ, vót thành nan. Mỗi sản phẩm lại cần những loại nan có độ dài, độ dày và kích thước khác nhau.

Những sản phẩm đan lát của ông Đinh Văn Xếp
Ông Đinh Văn Xếp (73 tuổi), cho biết, ông học nghề từ cha khi khoảng 18-19 tuổi. Những ngày đầu, ông chỉ làm những sản phẩm đơn giản, vừa làm vừa học. Sau này, do phải làm nhiều công việc khác, nghề đan lát có lúc chỉ được ông làm khi rảnh rỗi.
Đến khi nghỉ hưu, ông mới có nhiều thời gian hơn để gắn bó với nghề. “Về nghỉ không có làm gì, thỉnh thoảng hai vợ chồng lại kiếm tre, chẻ lạt rồi bắt đầu đan”, ông Xếp kể.
Theo ông, để một sản phẩm đan đẹp, chắc và sử dụng được lâu, người làm nghề phải thật sự kiên trì, tỉ mỉ ngay từ khâu chọn nguyên liệu. Tre phải đủ độ già, nan phải được chẻ đều, vót kĩ. Khi đan cũng phải căn từng nan, từng mắt đan để sản phẩm vừa chắc chắn, vừa cân đối.
Trên gác bếp nhà ông Xếp hiện vẫn còn nhiều sản phẩm do chính tay ông làm. Có những vật dụng nhìn giản dị nhưng phải mất nhiều ngày mới hoàn thành.
Như chiếc kđắp (mủng, rổ đựng cơm) hay kđắp h’long (rổ xúc lúa), ông phải mất khoảng hai ngày mới đan xong. Với những sản phẩm phức tạp hơn như gùi, người thợ có khi phải dành cả tuần.
“Tre nứa được vót thành những thanh nan đều, đẹp, dẻo dai. Mỗi sản phẩm lại yêu cầu nan có độ dài, ngắn, dày, mỏng, to nhỏ khác nhau. Do đó, phải tính toán kĩ để không bị lãng phí nguyên liệu”, ông Xếp nói.
Nguyên liệu cũng đang trở thành một nỗi lo. Theo ông Xếp, tre, nứa vẫn có thể tìm thấy ở những khu vực gần làng, nhưng mây ngày càng khó kiếm. Muốn tìm được những dây mây tốt, người dân phải đi sâu vào rừng, đến những khu vực núi cao, rừng rậm.
“Ở gần làng đã gần như không còn mây. Muốn tìm phải đi vào tận vùng sâu, rừng rậm, núi cao”, ông Xếp lo lắng.
Ngày trước, những vật dụng đan lát hiện diện trong hầu hết các gia đình Hrê. Chiếc rổ dùng đựng thực phẩm, cái nia để phơi lúa, sàng để làm sạch hạt, chiếc gùi theo người lên rẫy hay ra nương.
Đó là những vật dụng rất đỗi bình thường, nhưng lại gắn với đời sống lao động và sinh hoạt của đồng bào qua nhiều thế hệ. Ông Xếp nhớ lại, khi còn trẻ, những ngày lên lán nương làm kinh tế, sản xuất, người dân thường tự làm các vật dụng cần thiết cho gia đình.
“Ngày xưa ở trên lán nương để làm kinh tế, sản xuất thì chúng tôi lấy tre đan những đồ dùng hằng ngày như cái rổ, cái giỏ, cái dần, sàng”, ông kể.

Tre, nứa, mây là những nguyên liệu quen thuộc được ông Xếp sử dụng để làm sản phẩm
Ngày nay, cuộc sống đã thay đổi. Nhiều vật dụng bằng nhựa, kim loại được bán phổ biến, tiện lợi và có giá thành không cao. Những sản phẩm đan lát vì thế không còn giữ vị trí như trước trong mỗi gia đình.
Thế nhưng, với ông Xếp, những vật dụng truyền thống vẫn có một giá trị riêng. Đặc biệt, trong các dịp lễ, cúng, giỗ chạp, một số vật dụng đan bằng tre vẫn được sử dụng, gắn với tập quán và đời sống tinh thần của cộng đồng.
“Đây là truyền thống của đồng bào từ xưa đến giờ. Nếu không có những đồ này thì không có nhà nào không có, nhất là vấn đề tập quán, việc cúng quẩy”, ông Xếp chia sẻ.
Bởi vậy, ông tiếp tục đan. Không chỉ để có thêm thu nhập, nghề còn giúp ông lấp đầy những khoảng thời gian ở nhà. “Ở nhà ngồi không thì buồn”, ông cười nói.
Nhưng sâu xa hơn, đó là cách ông giữ lại nghề mà cha đã truyền cho mình.
Giữ nghề bằng truyền nghề và tạo sinh kế
Ông Xếp hiểu rằng một mình người nghệ nhân không thể giữ nghề nếu sản phẩm làm ra không có người sử dụng và không có đầu ra ổn định.
Một số sản phẩm ông làm vẫn được người dân mua về dùng. Có những sản phẩm được đưa đi trưng bày tại các địa phương. Qua những lần như vậy, ông nhận thấy du khách vẫn dành sự quan tâm cho các vật dụng thủ công truyền thống.
Điều ông mong muốn là địa phương, các hợp tác xã quan tâm hơn đến việc thu mua, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm của người dân.
Theo ông, nếu có một nơi tập trung sản phẩm, vừa trưng bày, vừa bán hàng, người làm nghề sẽ có thêm động lực để tiếp tục. Khi đó, những chiếc rổ, cái nia, chiếc gùi… không chỉ nằm trong căn bếp của người dân mà còn có thể trở thành sản phẩm giới thiệu văn hóa địa phương đến du khách.
Đây cũng là hướng đi được địa phương quan tâm khi phát triển du lịch cộng đồng. Những sản phẩm thủ công truyền thống, nếu được đầu tư về mẫu mã, câu chuyện sản phẩm và thị trường tiêu thụ, có thể trở thành một phần của trải nghiệm văn hóa dành cho du khách.
Du khách đến một bản làng không chỉ để ngắm cảnh, mà còn muốn biết người dân sống thế nào, làm ra những vật dụng gì, văn hóa được gìn giữ ra sao. Một chiếc gùi, chiếc rổ hay cái nia vì thế có thể trở thành “cánh cửa” giúp du khách hiểu hơn về đời sống của cộng đồng.

Các sản phẩm đan lát mộc mạc nhưng chứa đựng sự khéo léo và kinh nghiệm của người Hrê
Điều khiến ông Đinh Văn Xếp trăn trở nhất không phải là tuổi tác hay sự vất vả của nghề, mà là chuyện người trẻ có còn muốn học và làm nghề hay không.
Theo ông, nhiều người lớn tuổi trong cộng đồng vẫn biết đan, nhưng số người dành thời gian làm nghề thường xuyên không nhiều. Người trẻ có nhiều công việc khác, trong khi sản phẩm đan lát chưa mang lại thu nhập đủ hấp dẫn.
Nếu không có người kế tục, những kĩ thuật tưởng như đơn giản nhưng được tích lũy qua nhiều thế hệ có thể dần biến mất.
“Phải giữ lại cái này rồi vừa tuyên truyền cho mấy đứa cháu sau này, nhất là mấy đứa cháu nhỏ. Nếu không tuyên truyền, không vận động và không truyền lại thì sau này nghề này cũng mất”, ông Xếp trăn trở.
Giữ nghề, theo ông, trước hết phải bắt đầu từ việc để lớp trẻ hiểu nghề đan lát có ý nghĩa như thế nào đối với cộng đồng. Khi hiểu, các em mới có ý thức học, làm và tiếp tục truyền lại cho thế hệ sau.
Bên cạnh truyền nghề, việc tạo đầu ra cũng rất quan trọng. Khi sản phẩm bán được, người làm nghề có thêm thu nhập, nghề truyền thống mới có cơ hội sống được trong đời sống hiện nay.
Nghề đan lát vì thế không nên chỉ được nhìn như một nghề phụ của người lớn tuổi. Nếu biết kết hợp với du lịch cộng đồng, hoạt động trải nghiệm, quà tặng du lịch và các sản phẩm phục vụ đời sống hiện đại, những đôi tay từng đan gùi, đan rổ có thể tiếp tục tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu mới.

Những vật dụng gắn với đời sống sinh hoạt của đồng bào Hrê qua nhiều thế hệ
Theo ông Đinh Thanh Minh, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Mai, ông Đinh Văn Xếp là một trong những người có nhiều tâm huyết trong việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào Hrê trên địa bàn, đặc biệt là nghề đan lát.
Từ những vật liệu quen thuộc như mây, tre, nứa, ông Xếp đã khéo léo tạo nên nhiều vật dụng phục vụ đời sống như mủng, rổ và các sản phẩm đan lát khác. Những sản phẩm mộc mạc nhưng chứa đựng sự khéo léo, tỉ mỉ và những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ của người Hrê.
Điều đáng quý là ông Xếp không chỉ tự mình gìn giữ nghề mà còn tích cực truyền dạy kĩ thuật đan lát cho bà con. Qua từng nan tre, sợi mây, ông góp phần giúp lớp trẻ hiểu hơn về nghề truyền thống của dân tộc mình, qua đó chung tay giữ gìn những giá trị văn hóa trước nguy cơ mai một.
“Việc làm của ông Xếp có ý nghĩa thiết thực trong bảo tồn bản sắc văn hóa Hrê tại địa phương. Đây không chỉ là câu chuyện của một nghề thủ công mà còn là cách để những giá trị văn hóa truyền thống được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác”, ông Đinh Thanh Minh chia sẻ.
Theo lãnh đạo UBND xã Sơn Mai, chính quyền địa phương cũng đang quan tâm hỗ trợ, quảng bá các sản phẩm đan lát thủ công đến du khách tại một số điểm du lịch trên địa bàn, trong đó có Thác Trắng.
Việc đưa sản phẩm thủ công truyền thống đến gần hơn với du khách vừa mở thêm cơ hội nâng cao thu nhập cho người dân, vừa góp phần giới thiệu nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Hrê.
Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/dan-toc-ton-giao/doi-tay-giu-nghe-giu-hon-van-hoa-hre-265743.html

