Để đất 'Chín Rồng' vươn lên mạnh mẽ: Đưa Nghị quyết, quy hoạch vào thực tiễn

    Vấn đề cốt lõi của ĐBSCL vẫn là định vị vùng, bố trí không gian và huy động các nguồn lực phát triển với mục tiêu đưa vùng này thành nơi đáng sống đối với người dân, là điểm đến hấp dẫn đối với du khách và nhà đầu tư cùng với các cộng đồng dân cư chung sống thịnh vượng và năng động để tạo ra giá trị mới cho vùng đất 'Chín Rồng'.

    Chủ trì Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tổ chức tại TP Cần Thơ ngày 21/6, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, Hội nghị 5 trong 1 này là sáng kiến của Bộ KH&ĐT, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan, bao gồm: Công bố Chương trình hành động của Chính phủ về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh vùng ĐBSCL thực hiện Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị; công bố quy hoạch vùng ĐBSCL theo quy định của Luật Quy hoạch và xúc tiến đầu tư cho vùng ĐBSCL; giới thiệu Chỉ thị về một số nhiệm vụ thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững vùng ĐBSCL, chủ động thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH); công bố các cam kết tài trợ quốc tế; tổ chức triển lãm, quảng bá hình ảnh, vùng đất văn hóa, con người vùng ĐBSCL. Đó là những nội dung chính mang nhiều kỳ vọng, niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

    Bố trí không gian, huy động nguồn lực

    Vấn đề cốt lõi của ĐBSCL vẫn là định vị vùng, bố trí không gian và huy động các nguồn lực phát triển với mục tiêu đưa vùng này thành nơi đáng sống đối với người dân, là điểm đến hấp dẫn đối với du khách và nhà đầu tư cùng với các cộng đồng dân cư chung sống thịnh vượng và năng động để tạo ra giá trị mới cho vùng đất “Chín Rồng”.

    Việc sớm đưa Nghị quyết và quy hoạch vào thực tiễn sẽ giúp châu thổ Cửu Long vươn lên mạnh mẽ.

    Việc sớm đưa Nghị quyết và quy hoạch vào thực tiễn sẽ giúp châu thổ Cửu Long vươn lên mạnh mẽ.

    Quy hoạch bố trí 4 hành lang phát triển vùng, gồm: Hành lang kinh tế đô thị - công nghiệp từ Cần Thơ đến Long An; hành lang dọc sông Tiền - sông Hậu; hành lang kinh tế ven biển từ Long An, Cà Mau đến Kiên Giang và hành lang biên giới từ Long An đến Kiên Giang. 4 khu vực phát triển động lực, gồm: TP Cần Thơ trung tâm vùng; Tứ giác động lực Cần Thơ, Long Xuyên, Cao Lãnh, Vĩnh Long; các trung tâm đầu mối về nông nghiệp gắn với hệ thống các đô thị loại 1 có vai trò trung tâm tổng hợp, trung tâm chuyên ngành của vùng, tiểu vùng và phát triển Phú Quốc gắn kết với hệ thống đô thị ven biển, đô thị đảo để trở thành một cực phát triển kinh tế biển quan trọng trong không gian biển quốc gia. “Trục xương sống” của vùng vẫn là cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi và chất lượng nguồn nhân lực. Ba khâu then chốt này vẫn được coi là chiến lược quan trọng nhất của quy hoạch vùng.

    Quy hoạch vùng ĐBSCL xác định rõ, phát triển hệ thống kết cấu giao thông vận tải đa phương thức kết nối liên vùng và quốc tế, trong đó chú trọng phát huy thế mạnh của vùng về giao thông thủy nội địa. Đến năm 2030, đầu tư xây dựng mới và nâng cấp khoảng 830km đường bộ cao tốc; khoảng 4.000km quốc lộ; 4 cảng hàng không; 13 cảng biển, 11 cụm cảng hành khách và 13 cụm cảng hàng hóa đường thủy nội địa. Hạ tầng thủy lợi được xây dựng đồng bộ phù hợp với chuyển đổi sản xuất nông nghiệp thích ứng với BĐKH tại các tiểu vùng sinh thái, đồng thời đảm bảo chủ động kiểm soát lũ, ứng phó với lũ cực đoan, phòng, chống sạt lở.

    Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể cho biết, Bộ đã hoàn thành 5 quy hoạch chuyên ngành, xác định phát triển hướng kết nối giao thông từ ĐBSCL đến TP Hồ Chí Minh thông qua các tuyến cao tốc, tuyến đường thủy giúp cho việc đi lại thuận lợi hơn, phát triển hết tiềm năng lợi thế của vùng.

    Theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể, ngày 30/4 vừa qua khánh thành cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận, 1 - 2 năm nữa sẽ khánh thành cầu Mỹ Thuận 2, cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ đang triển khai quyết liệt. Hiện, Bộ đang triển khai 3 cao tốc rất lớn: Cần Thơ - Cà Mau, Cần Thơ - Sóc Trăng và Cần Thơ - Châu Đốc, hoàn chỉnh đường cao tốc từ An Hữu qua Cao Lãnh về Rạch Giá, vậy là sẽ có 3 trục đường cao tốc quan trọng. Trong nhiệm kỳ này, nếu quyết tâm cao, phối hợp tốt sẽ hoàn thành được khoảng 448km đường cao tốc.

    “Tin rằng, với hệ thống đường cao tốc như thế này sẽ đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và các nhà đầu tư sẽ đến với Vùng nhiều hơn", Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết.

    TS Đặng Kim Sơn, chuyên gia về chính sách nông nghiệp chia sẻ, trong quá trình đổi mới thời gian qua, nổi bật lên thành công rực rỡ của lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, trong đó, ĐBSCL là địa bàn tiên phong; Quy hoạch ĐBSCL đã được công bố mở ra cơ hội, tiềm năng mới cho vùng đất này. Với định hướng đa dạng về sản xuất nông nghiệp, thời gian tới ĐBSCL không chỉ là vựa lúa mà còn trở thành vựa trái cây, vựa thủy sản của Việt Nam, đóng góp quan trọng cho an ninh lương thực thế giới.

    Với 3 vùng sinh thái được xác định các giải pháp, hệ thống hạ tầng cơ sở liên kết như hiện nay, chắc chắn ĐBSCL sẽ phát triển theo hướng thuận thiên, vững bền. Đây cũng là cơ sở bảo đảm để chúng ta xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh, nông nghiệp tái tạo. Một điểm quan trọng là chúng ta xác định được 8 vùng trung tâm đầu mối gắn với quá trình phát triển cơ sở, đây là cơ sở quan trọng để tiến hành phát triển nông nghiệp chế biến, nâng tầm giá trị cho nông sản Việt Nam.

    Hiện thực hóa Nghị quyết, quy hoạch vùng

    Những ý tưởng mới, tinh thần mới, nội dung mới đã được thể hiện trong Nghị quyết 13 và bản quy hoạch vùng được công bố, kêu gọi nguồn lực đầu tư xã hội cùng với ưu tiên bố trí vốn đầu tư công và yêu cầu liên kết vùng là quan trọng, nhưng quan trọng hơn vẫn là việc triển khai nó trong thực tế.

    Theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan, quy hoạch nông nghiệp hướng đến tính tổng thể, chiến lược chứ không chỉ là “phép cộng công thức” đơn thuần. Quy hoạch có tính mở, tính linh hoạt tương đối, để có thể chủ động thích ứng với xu thế biến đổi liên tục, không ngừng, với những câu hỏi kinh tế học từ trăm năm nay: “Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào?”.

    Sự điều phối theo chuỗi ngành hàng, tính liên kết vùng, tiểu vùng giữa các địa phương được chú trọng ngay đầu mùa vụ, chứ không phải chỉ tập trung xử lý khi nông sản ùn ứ sau thu hoạch. Mỗi địa phương có thể chủ động mở rộng không gian liên kết, phát triển trong không gian có sự điều phối cả vùng. Đất đai có thể manh mún, địa giới hành chính có thể bị chia cắt, nhưng không gian phát triển không thể manh mún, không gian kinh tế không thể bị chia cắt. Chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế là mệnh lệnh cấp thiết phát triển nông nghiệp vùng ĐBSCL.

    Văn phòng Điều phối nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL tại TP Cần Thơ đã đi vào hoạt động. Văn phòng đang thực hiện vai trò điều phối tích hợp thông tin nông nghiệp cấp vùng thông qua số hóa các cơ sở dữ liệu, công tác quy hoạch sản xuất, chuẩn hóa vùng nguyên liệu, chuẩn hóa quy trình sản xuất; kết nối doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu; hình thành chuỗi ngành hàng thông qua các hiệp hội ngành hàng bắt đầu từ chuỗi lúa gạo, hỗ trợ nâng cao chất lượng hợp tác xã, hình thành mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ; điều phối vận hành các công trình thủy lợi đảm bảo đồng bộ toàn hệ thống. Ngoài ra, cũng sẽ hỗ trợ điều phối các dự án tài trợ quốc tế có tính liên tỉnh, liên vùng, kết hợp hài hòa giữa đầu tư công trình và các giải pháp phi công trình, mở ra không gian kinh tế nông thôn.

    Bên cạnh đó, Bộ NN&PTNT đang tích cực đàm phán, kêu gọi các dự án đầu tư hạ tầng logistics nông nghiệp, nông thôn, trong đó có chuỗi kho lạnh bảo quản nông sản cấp độ liên huyện, liên tỉnh dọc theo sông Hậu và sông Tiền. Sản xuất nông nghiệp ít nhiều tác động đến BĐKH.

    Tại Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo quốc gia trên thế giới, COP26, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã cam kết đến năm 2050 Việt Nam sẽ là quốc gia có nền kinh tế cân bằng các-bon. Nếu nói BĐKH là một thách thức, thì từ góc nhìn tích cực, khi giải quyết được thách thức này lại tạo ra thương hiệu cho ĐBSCL, mặc dù chịu tác động lớn của thiên nhiên, nhưng biết cách chủ động thích ứng và phát triển một cách thông minh, hài hòa, thuận thiên.

    Những mô hình nông nghiệp sinh thái, tích hợp “đa tầng, đa giá trị, thuận tự nhiên” gần đây đã xuất hiện ở nhiều địa phương trong vùng, như: Mô hình kinh tế dưới tán rừng; mô hình tôm - lúa ở bán đảo Cà Mau; mô hình chuyển đổi từ độc canh cây lúa sang đa canh, xen canh đã tăng thu nhập cho nông dân vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên; mô hình sản xuất thích ứng với hạn mặn ở các tỉnh duyên hải; mô hình du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp, nông thôn… đang tạo ra nhiều hiệu ứng tích cực.

    Theo các chuyên gia, có 4 nhóm giải pháp cần thống nhất, triển khai đồng bộ. Cụ thể, tiếp tục hoàn thiện thể chế điều phối vùng, tăng cường vai trò của các địa phương trong Hội đồng điều phối vùng. Các cơ chế, chính sách tạo sự liên kết giữa các địa phương, phát huy sức mạnh tổng hợp, định vị lợi thế cạnh tranh. Ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm đối với các nhóm sản phẩm chủ lực của vùng. Tổ chức huy động nguồn lực đầu tư phát triển, ưu tiên bố trí vốn đầu tư công, thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách, nhất là vốn trong khối tư nhân; những việc, lĩnh vực mà tư nhân có thể thực hiện cần được tạo điều kiện cho tư nhân. Thúc đẩy hình thành các quỹ đầu tư, các cơ chế huy động vốn khuyến khích cho vay, tăng cường năng lực cho các thành phần kinh tế.

    Với nguồn lực có hạn, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm, lựa chọn khâu đột phá, khắc phục tình trạng dàn trải, phân tán, lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư là yêu cầu quan trọng hàng đầu. Cần nghiên cứu, hy động nguồn lực triển khai chương trình hỗ trợ cấp vùng cho nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp nông thôn. Tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch; đầu tư và phát triển hạ tầng theo quy hoạch và tổ chức không gian lãnh thổ, giải quyết các “điểm nghẽn” phát triển trong lĩnh vực GTVT, thích ứng BĐKH phù hợp với quy hoạch vùng được phê duyệt. Thực hiện nhiệm vụ cấp bách về chống sạt lở, sụt lún nghiêm trọng tại một số khu vực bờ biển, bờ sông.

    Các dự án đầu tư và phát triển hạ tầng phải đảm bảo thống nhất, tính liên vùng, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm và có lộ trình hợp lý. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, đổi mới sáng tạo và khoa học, công nghệ cần được xem là chìa khóa thành công trong phát triển vùng. Theo đó, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực theo hướng phục vụ phát triển các ngành lợi thế của vùng và tăng cường đào tạo, thu hút số lao động trẻ có trình độ chuyên môn, tay nghề, trên cơ sở gắn kết hoạt động của các trung tâm đầu mối với hệ thống các viện nghiên cứu và trường đại học trong vùng cũng như ngoài vùng, cả các tổ chức quốc tế và các quỹ có quan tâm và ưu tiên đầu tư cho vùng.

    Tầm nhìn dài hạn, mục tiêu phát triển ĐBSCL trở thành vùng đất an toàn, trù phú, thịnh vượng trong tương lai đến nhanh hay chậm đang đòi hỏi những nỗ lực vượt qua các thách thức, tận dụng thời cơ, hành động đột phá và không hối tiếc. Diện mạo tương lai đồng bằng đã được định hình rõ, cần những gam màu sáng bằng tư duy, cách tiếp cận, giải pháp khả thi và hành động thực tế.

    Trần Hữu Hiệp – Nguyễn Văn Đức

    Nguồn CAND: https://cand.com.vn/su-kien-binh-luan-thoi-su/de-dat-chin-rong-vuon-len-manh-me-dua-nghi-quyet-quy-hoach-vao-thuc-tien-i663006/