Trong chuyên mục Cà kê chuyện chữ nghĩa số trước, chúng tôi có bài viết: Về cách giảng hai từ 'phiền phức' và 'phức tạp' trong 'Tầm nguyên từ điển' của Lê Văn Hòe. Sau khi phân tích và chứng minh, chúng tôi đã đi đến kết luận: 1. Trong Hán ngữ, cả phiền phức 繁複, lẫn phức tạp 複雜, đều được từ điển ghi nhận thống nhất bằng chữ 'phức' có tự hình là 複 (bộ y), chứ không phải chữ phức 輻 (bộ xa 車) nghĩa là nan hoa bánh xe; 2. Chữ tạp, trong từ 'phức tạp' 複雜 có nghĩa là pha tạp, không thuần nhất, chứ không mang nghĩa chuyên biệt là 'món rau trộn'.
Người Việt thường dùng lẫn lộn 'khí hậu' và 'thời tiết' nhưng theo các từ điển, đây là hai khái niệm khác nhau, gắn với cách người xưa chia mùa và quan sát thiên nhiên.