Tết ở làng xã xưa

Cúng Tết Nguyên đán ở các làng xã là tục lệ có từ rất xa xưa ở Xứ Lạng. Đó là nét đẹp văn hóa truyền thống thể hiện đạo hiếu, sự gắn kết cộng đồng của người Lạng Sơn. Trong mỗi thời kỳ lịch sử, tục lệ này lại mang một sắc thái khác nhau. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, tục cúng Tết Nguyên đán ở Lạng Sơn không chỉ chứa đựng bản sắc văn hóa vùng, miền mà còn mang đậm dấu ấn lịch sử thời kỳ phong kiến ở nước ta.

Đền Vua Lê (cũ) phường Tam Thanh - Một trong những địa điểm diễn ra nghi lễ cúng Tết Nguyên đán của người dân

Đền Vua Lê (cũ) phường Tam Thanh - Một trong những địa điểm diễn ra nghi lễ cúng Tết Nguyên đán của người dân

Tết là thời điểm đánh dấu năm cũ đã qua, một năm mới bắt đầu. Từ những năm tháng xa xưa, mỗi khi tết đến, xuân về, cộng đồng làng xã ở Lạng Sơn lại rục rịch chuẩn bị tổ chức cúng lễ tạ ơn bản cảnh thành hoàng, cầu bình an, cầu phúc với niềm tin thiêng liêng, cao cả. Việc cúng tế thường được tổ chức ở các ngôi miếu hoặc đền, đình của làng xã. Phổ biến nhất là các miếu Thổ công - nơi thờ vị thần đất bảo trợ cho dân bản mà hầu như làng nào cũng có. Thần đất thường là thiên thần, cai quản đất đai nhưng cũng có thể là nhân thần - người có công khai mở đất, lập làng được nhân dân suy tôn làm Thành hoàng.

Từ cuối tháng Chạp của năm cũ, ở một số làng xã đã họp bàn, thu tiền của các hộ gia đình để chuẩn bị mua lễ vật cúng tế ở đền, miếu của làng. Tục lệ xã Hữu Ích, tổng Quang Bí, châu Điềm He (sao chép ngày mùng 1, tháng 4 năm Khải Định thứ 4 (1919) cho biết: “Vào ngày 26 tháng 12 hàng năm, các vị Tiên chỉ, Kỳ mục, Lý dịch trong làng tề tựu họp bàn, giao cho người làm việc Phe đi truy thu theo nhân khẩu mọi người trong xã, mỗi người nộp 1 hào 6 xu tiền Đông Dương, nửa cân gạo trắng…” . Ở một số nơi lại không thu tiền, hiện vật mà làng xã để riêng một khu đất ruộng cho Thủ từ canh tác. Hoa lợi thu được dùng để sắm lễ vật cúng tế vào các lễ tiết trong năm, dịp tế thần linh... Tục lệ xã Lộc Dương, tổng Trinh Nữ, châu Cao Lộc (sao chép ngày 24 tháng 6 năm Khải Định thứ 4 (1919) viết: ”Lễ vật ấy có ruộng của miếu, giao cho Thủ từ canh tác, lo liệu, sắm sửa…”. Người chuẩn bị lễ vật có thể là Thủ từ (người giữ việc đèn nến, chuyên trông coi miếu thờ), các ông Mo (chủ lễ) hoặc Lý trưởng, Phó lý. Tùy theo mỗi làng, thời gian cúng tết Nguyên đán được ấn định khác nhau. Phổ biến nhất là cúng 3 ngày tết (từ mùng 1 đến mùng 3). Nhưng cũng có làng cúng liên tục từ mừng 1 đến hết mùng 5. Lễ vật cúng tế phổ biến là gà trống luộc hoặc quay, thịt lợn, lợn quay, xôi trắng hoặc xôi đỏ, rượu trắng, bánh mật, bánh chay, hương hoa, trầu cau, đồ mã và đặc biệt là có rất nhiều pháo giấy các loại. Đồ lễ ít nhiều tùy theo điều kiện, quy ước của mỗi nơi. Có nơi mỗi ngày chỉ cúng đơn giản 1 con gà, 1 cân xôi, 1 cân rượu gạo, hương hoa, vàng mã; nhưng cũng có nơi cúng liền ba ngày tết với lễ vật rất thịnh soạn, thể hiện ước mong sung túc, thịnh vượng của dân làng. Tục lệ xã Tú Mạc, tổng Khuất Xá, châu Lộc Bình (chép ngày 10 tháng 12 năm Khải Định thứ 4 (1919) cho ta thấy lễ vật cúng tế ở đây có số lượng khá nhiều, trong ngày mùng 1 lễ vật gồm: “35 cái bánh hoa, 1 con lợn quay, 15 cân xôi, 15 cân rượu, 15 cân xôi đỏ, hoa, hương, đồ mã, các loại và 5000 pháo giấy”. Hai ngày sau cũng tương đương như vậy, hơn kém không đáng kể.

Ngày nay, tục lệ cúng Tết Nguyên đán của làng xã đã giản lược đi rất nhiều để phù hợp với nhịp sống mới. Nhưng trước đây, việc cúng tế ở Lạng Sơn diễn ra rất long trọng, có phần rườm rà, mang đậm màu sắc tổ chức làng xã thời phong kiến. Theo định lệ, vào ngày đầu tiên của năm mới, khi những người được giao biện lễ mang lễ vật đến miếu, ông Mo đánh trống, đánh chiêng báo hiệu cho mọi người đến tham gia hành lễ. Theo hiệu lệnh đó, lập tức các thành phần phải có mặt đông đủ, chỉnh tề: Tiên chỉ, Thứ chỉ, Kỳ mục, Lý dịch… Đó là các vị chức sắc dân cử để đảm nhiệm các công việc quản lý, thực thi nhiệm vụ chung ở làng, xã. Khi đã tề tựu đông đủ, ông thày Mo trịnh trọng làm lễ. Qua những tục lệ cổ xưa ghi chép lại chúng ta thấy, sau khi dâng lễ, thày Mo khấn vái tạ ơn Bản cảnh thành hoàng đã phù hộ cho dân làng bình an trong suốt một năm đã qua. Đồng thời “cầu mong Tôn thần năm nay phù hộ cho nhân dân được bình an, mọi vật thịnh vượng, tốt tươi” (Tục lệ xã Quang Bí, tổn Quang Bí, châu Điềm He). Sau khi thày Mo khấn vái xong, lần lượt theo ngôi thứ, mọi người kính cẩn vào thắp hương, khấn vái. Đồng thời những người giúp việc mang pháo giấy ra đốt. Tiếng pháo vang lên giòn giã trong không gian tĩnh mịch, thanh khiết vào ngày đầu tiên của năm như tiếng reo vui đón chào năm mới, tạo sự tưng bừng, phấn khởi, lan tỏa niềm vui. Đồng thời có ý nghĩa xua đuổi tà ma, mang lại sự tốt lành cho dân bản. Hết một tuần hương, tuần rượu, lễ vật được hạ xuống, đồ mã được hóa vàng. Lềnh trưởng chia đồ lễ làm nhiều phần, biếu Thủ từ, ông Mo, còn lại chia lộc thần cho những người có mặt đem về nhà ăn uống vui vẻ. Cũng có nơi mọi người cùng nhau thụ lộc ngay tại chỗ. Trong không gian thiêng, người người rót rượu thăm hỏi, cầu chúc cho nhau những lời tốt đẹp ấm áp tình làng nghĩa xóm. Tục lệ xã Quang Bí, tổng Quang Bí, châu Điềm He (sao chép ngày 26 tháng 3 năm Khải Định thứ 4 (1919) cho biết “Sau đó mọi người cùng nhau nhảy múa, ca hát rồi mới về”.

Bên cạnh nghi thức cúng chung của cộng đồng, các gia đình cũng sắp một mâm lễ riêng mang đến cúng gồm xôi, gà, bánh trái, rượu, vàng hương… Có nơi quy ước gia đình cúng ngay mùng 1 Tết, có nơi mùng 2 , mùng 3… Lễ vật được làm từ sản phẩm nghề nông của gia đình, có sự chọn lựa kỹ càng, bày biện đẹp mắt. Đó không chỉ lòng thành của gia chủ tạ ơn thánh thần mà còn có ý nghĩa thể hiện sự khéo léo, làm ăn phát đạt của nhiều gia đình trong năm đã qua, ước vọng về cuộc sống ấm no, sung túc trong năm mới. Sau khi cúng xong, mâm lễ của gia đình nào thì nhà nấy mang về cho con cháu thụ lộc.

Với người Xứ Lạng xưa, cúng tết Nguyên đán là nghi lễ rất quan trọng khởi đầu cho một năm làm ăn mới của cộng đồng. Đó cũng là nghi thức gắn với tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp cổ, mở đầu cho các lễ tiết trong năm. Ngày xuân, nhớ về tục lệ tết xưa của cha ông, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc hơn ý nghĩa tết đoàn viên ấm áp, sum vầy, hướng về cội nguồn của người Xứ Lạng còn lưu truyền mãi đến ngày nay.

CHU QUẾ NGÂN

Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/tuc-le-tet-nguyen-dan-o-lang-xa-lang-son-xua-5071551.html