Khi Mai dừng xe trước quán hủ tiếu lề đường thì đồng hồ đã chỉ mười giờ đêm. Phố lác đác người trong ánh đèn vàng vọt hắt xuống lòng đường. Chị Hồng vừa nhanh tay dọn mấy cái tô trên chiếc bàn nhựa cũ mèm vừa hỏi Mai hôm nay lại tăng ca à? Mai uể oải gật đầu rồi ngồi xuống ghế. Chị Hồng vội lấy hủ tiếu trụng nước sôi, không cần hỏi chị cũng biết Mai ăn hủ tiếu thịt, loại mười ngàn một tô. Mai nói dạo này công ty ế ẩm quá, phải tằn tiện mới đủ chi tiêu.
Tháng Bảy đến, nắng hạ chói chang, ai cũng rưng rưng khi viếng nghĩa trang vào những ngày tưởng niệm thiêng liêng 27-7. Không hiểu sao, tôi vẫn thích đến thăm nghĩa trang vào những xế chiều. Vâng! Cái nắng vàng vào buổi xế chiều ấy, cái hoàng hôn sắp ập lặng một ngày ấy, thoảng một chút gió nhẹ hiu hiu, mình mới thấy xúc cảm ắp đầy. Mới thấy con người đang quay về tự tại với chính tâm linh mình hòa cùng chút thoảng nhẹ của khói hương thoảng bay dễ xuôi ta bắt nhịp với những người đang nằm dưới mộ...
Có một hòn đảo mang tên Cô Đơn cách xa đất liền khoảng 200 hải lý.
Chiều tàn. Phố bắt đầu chộn rộn, lung linh dưới ánh đèn neon lấp lánh màu quang phổ. Phố đông vui khi dòng người náo nức hòa vào nhịp sống sôi nổi về đêm. Vậy mà, con đường Hải Phòng trước sân Ga Đà Nẵng nơi tôi ngang qua vào một buổi tối mùa hạ tựa đang dịu dàng, trầm mặc, suy tư. Dường như, một chút tĩnh mịch hiện diện ở góc phố này cũng đủ gieo vào lòng tôi nỗi bâng khuâng hoài niệm về chuyến tàu tuổi thơ. Ở đó, tôi bắt được niềm vui và sờ thấy cả nỗi buồn.
Có một câu chuyện hay kể về một cuộc thi vẽ tranh ở vương quốc nọ. Nhà vua ra chủ đề cho các họa sĩ tham gia dự thi: hãy vẽ về sự bình thản. Đã có rất nhiều bức tranh được vẽ, nhưng nhà vua chỉ ưng ý với hai bức tranh. Một bức tranh vẽ về một không gian thoáng đãng, có những triền cỏ mướt xanh, những nét đồi hiền hòa, phía trên là những đám mây bồng bềnh, trên cái hồ nước xanh thăm thẳm là hai con thiên nga. Bức tranh còn lại tỏ ra với những nét vẽ đối lập, mây đen xám xịt, cơn mưa trắng xóa, những tia chớp sáng loàn vạch lên ngọn đá và điều đặc biệt là nơi vách đá có một con chim đang rũ cánh mình, nó lặng im ngước mắt lên nhìn bầu trời bằng tâm thế bình thản nhất. Và rồi, kết quả chung cuộc người họa sĩ vẽ nên bức tranh thứ hai đã thắng cuộc.
Cuối tuần rỗi rãi, tôi ngồi một mình trong quán vắng, nghe tiếng nhạc du dương êm đềm. Từng câu, từng lời của bài hát 'Ngày mai anh lên đường' chảy vào tim, ngọt ngào trong vắt như nước suối rừng. Lòng bồi hồi theo ký ức xuôi về miền biên viễn, tôi chìm ngập trong nỗi nhớ xa xăm, tuổi ấu thơ ngày xưa hồn nhiên bên cha, bên giàn phong lan thơm ngát hương đưa.
'Ra vườn lượm nắm củi/ Chụm nóng nồi nước sôi/ Lửa reo vui tí tách/ Nhớ đã xa một thời'. Những âm thanh khô giòn của những cành củi, tiếng chân xạc xào giẫm trên đám lá rụng, mùi khói mới nhen từng đụn bay vấn vít trong không trung, rồi ngọn lửa vàng vọt trong cái bếp củi cuối vườn sau… gợi trong tôi ký ức những chiều tà bên chái bếp.
Một câu chuyện cổ xưa mà người ta vẫn nhớ, về một nàng tiên bay xuống trần chơi, bị người phàm (kẻ sau này là chồng nàng) trộm đi đôi cánh. Mắc kẹt lại nơi chốn xa lạ, nàng làm vợ, làm mẹ, bà, làm bếp, làm đồng, làm mọi thứ có thể, trừ bay. Rồi một ngày kia nàng tình cờ tìm được đôi cánh của mình, và biến mất vào bầu trời xa thẳm. Kết cuộc nọ làm câu chuyện khác biệt với hàng loạt câu chuyện cổ quen thuộc, khi mà người góc biển kẻ chân trời, không cùng nhau hạnh phúc trọn đời.
Đêm, hương hoa ngào ngạt cả không gian nhỏ bé khu vườn nhà tỏa ra từ cây lộc mưng (lộc vừng) trước cổng. Sáng ra một lớp hoa đỏ rải thảm trên nền gạch thẫm. Mấy chú ong mật còn mê đắm mùi hương hay tìm kiếm chút mật nào sót lại nơi cuống hoa vừa rụng mà lưu luyến không rời. Nhìn cảnh ấy, mẹ già bất giác lại đọc câu ca dao quen thuộc 'Cá lẹp mà kẹp lộc mưng/ Chồng ăn một miếng vợ trừng mắt lên'. Hiểu được ẩn ý từ câu nói buột miệng của mẹ, vợ tôi lẳng lặng xách làn đi chợ. Trưa nay kiểu gì cũng có món ăn cả nhà yêu thích - món cá lẹp kẹp lộc mưng.
Kỷ niệm 49 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2024), hôm nay (16-4), Hội Mỹ thuật thành phố phối hợp Bảo tàng Mỹ thuật khai mạc triển lãm mỹ thuật chủ đề 'Nắng tháng Tư'. Đây là triển lãm lần đầu tiên tổ chức với một phần kinh phí được xã hội hóa thông qua tài trợ của Hiệp hội Quảng cáo thành phố Đà Nẵng và nhà sưu tập Lê Quang Khải, nhằm động viên khuyến khích họa sĩ trẻ dưới 40 tuổi có nhiều thành tích đóng góp cho phong trào hội nhiều năm qua.
Thật khó mà tin giữa lòng thành phố Đà Nẵng tấp nập, sôi động lại có một làng cò yên ả nên thơ đến thế. Không biết tự bao giờ loài chim trắng ấy đã về lập làng tại nơi đây. Tôi tạm gọi đó là làng Cò.
Dọn dẹp tâm trí chính là bước khởi đầu để chữa lành những tổn thương, nứt vỡ. Công việc ấy cần được thực hiện thường xuyên, chậm rãi như đang dọn lại một khu vườn. Bên cạnh việc bỏ đi những dây leo, cỏ dại gây ngổn ngang, ảnh hưởng, thì ta cũng cần từ tốn để giữ nguyên vẹn vẻ đẹp của những bông hoa.
Hồi nhỏ tôi sống cùng ông bà nội. Trước sân nhà lúc đó có một cây cóc. Cây cao lêu nghêu, với tán lá um tùm, quanh năm cho bóng mát và trái sai lúc lỉu, từng chùm trên cành đong đưa trong gió.
Sau những rực rỡ mai đào ngày Tết, những tiếng cười rộn rã niềm vui gặp gỡ mùa xuân; quê lại trở về nhịp sống đời thường trầm mặc như mái đình rêu phong nghìn năm cổ tích. Một sắc tím hoa xoan nơi ngõ quê sao cứ nôn nao lòng người giữa những cơn mưa riêu riêu hạt nhớ. Dẫu không còn thảng thốt với cảnh tháng ba ngày tám, vậy mà những khoảnh khắc xuân đã cạn ngày sao lòng ta không khỏi bâng khuâng về bóng dáng làng xưa!
Nhìn lại những khoảng thời gian quá vãng, tôi luôn cảm thấy biết ơn cuộc đời khi cho mình mạnh mẽ rời bến đỗ an toàn của gia đình để rời đi. Đi đến đâu, đi bao xa, đi để làm gì và đi cùng ai, những câu hỏi đó đã giúp tôi biết để định vị đúng những hành trình của mình… Giữa những hành trình ấy, tôi hạnh phúc khi có sự trở về đầy xúc động. Dẫu biết đó chỉ là những khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để chính mình thanh tân những nỗi niềm, nuôi dưỡng những mối quan hệ thân thương, và cũng để trường thiên hơn hành trình cuộc đời. Để rồi, khi sống trong khoảnh khắc tiếp tục rời đi sau mỗi lần được trở về, tôi luôn để chính mình chầm chậm để thẳm sâu…
Tôi sinh ra và lớn lên nơi xứ ruộng miệt đồng, xung quanh chỉ có lúa, có tràm, có sen… Nơi mà bà con nông dân ra đồng lúc trời còn hừng đông, về nhà khi trời đã đỏ đèn chạng tối. Đơn sơ, mộc mạc lắm nhưng có ai hỏi tuổi thơ nơi xứ đồng bưng có gì thì biết kể sao cho hết vì đó là cả một trời thương nhớ khôn nguôi trong tôi.
Những ngày này, cuộc sống xung quanh bỗng nhiên cấp tập, bận rộn hơn. Để sắp xếp, đắp đổi cho một mùa sum vầy thêm đủ đầy, ai ai cũng phải chạy đua với thời gian, ít người thong dong để nhìn nhận khách quan về những khoảng trống hay những cảm xúc phong phú khác nhau do thời gian mang lại.
Những cơn gió liu riu đầu Chạp dễ khiến lòng kẻ xa quê rung lên những khúc ngậm ngùi. Mới đó mà một năm cũng sắp sửa cạn cùng.
Bạn bè thường gọi 'Anh' nhưng Hoàng Đặng đã ngoài 'xưa nay hiếm' cũng khá lâu rồi. Hình như tuổi tác chưa làm giảm những tinh anh, đôi mắt ấy vẫn tinh tường. Ở anh có cái gì đó mâu thuẫn, rất trẻ trong phát hiện tình huống nhưng lại có chút đắn đo mỗi khi nghe nhận xét về ai đó. Xưởng vẽ thì ngổn ngang những toile, những lọ nhưng các típ màu thì lại ngay ngắn thứ tự, xanh đỏ phân minh. Hồi nhỏ rất nghiêm túc nhưng về già lại có chút bông đùa. Chiếc xe máy bao năm cà tàng nhưng chai Martell thì hảo hạng. Buổi sáng thường hay đăm chiêu nhưng buổi chiều thì thường sôi nổi, Hoàng Đặng luôn luôn khao khát thèm sống, thèm nhìn. Qua anh ta dễ nhận ra cái đẹp, cái xấu ở đời.
Một ngày mưa tầm tã, gió đông lùa se sắt, tôi nghe văng vẳng tiếng chuông chùa vọng lại. Dở lịch ra xem, đã đúng hẹn tháng mười. Chợt tôi thấy bâng khuâng, và lòng mình đang ngược dòng thời gian quay về thuở còn ấu thơ.
Không biết tự bao giờ mà mùa đông đã trở thành mùa nhớ? Phải chăng chính cái rét đặc trưng như muốn cắt da cắt thịt của nó mà khiến cho người ta tìm đến nỗi nhớ như thể là một phương cách để tự thắp lên cho mình những ngọn lửa tự tâm để sưởi ấm chính mình. Người ta nhớ nhiều, nhớ gia đình, người thân, nhớ những con người đã từng gặp, nhớ những cảnh vật, và bình dị hơn là nhớ cả một sắc cỏ mùa đông...
Nếu tôi càng ham hố gặp gỡ thì nội dung những cuộc giao tiếp sẽ nhạt nhẽo, chẳng có gì ấn tượng, nếu tôi càng cấp tập mua sắm thì chỉ rước về nhà những món đồ ngày càng ít dùng đến. Nếu ôm đồm một lúc làm nhiều việc thì sẽ chẳng có việc nào thật sự hiệu quả và để lại giá trị. Tôi cần lắng lại để được sống đầy.
Ở tuổi nổi loạn, Nguyệt thường hay bực dọc, khó chịu khi phải sống trong ngôi nhà tam đại đồng đường. Cô thường bĩu môi mỗi khi nghe khách khứa tới nhà khen gia đình mình có âm phúc. Cô cho rằng họ không nằm trong chăn nên không biết có rận. Cô chỉ tin lời bè bạn, chúng nói rằng bà ngoại Nguyệt khó tánh.
Chị kể má chồng sớm nay đòi chị chở đi đập tràn coi nước. Bà má bảo nghe nước về lớn lắm. Khỏi xác nhận bằng mắt chị cũng biết bà mơ. Dạo này bà hay mơ kiểu vậy. Nhưng bà già giảy nảy dữ quá khi con dâu nói mình chiêm bao. Mùi nước rõ ràng vậy mà mơ được sao, bây mơ thì có. Sự quả quyết của má khiến chị đâm ra ngờ chính mình.
Chị kể má chồng sớm nay đòi chị chở đi đập tràn coi nước. Bà má bảo nghe nước về lớn lắm. Khỏi xác nhận bằng mắt chị cũng biết bà mơ. Dạo này bà hay mơ kiểu vậy. Nhưng bà già giảy nảy dữ quá khi con dâu nói mình chiêm bao. Mùi nước rõ ràng vậy mà mơ được sao, bây mơ thì có. Sự quả quyết của má khiến chị đâm ra ngờ chính mình.
Dáng dấp làng quê và tuổi thơ ngô nghê bỗng hiện về, khi tôi bắt gặp hình ảnh người nắn tò he giữa ngã tư đèn đỏ.
Tháng ngày tuổi trẻ, tôi từng ngược xuôi tìm kiếm sự chân thành. Nghĩ rằng sự thành thật là thứ quan trọng nhất để yêu và được yêu. Nhưng rồi có nhiều khi, gieo chân thành mà lại gặp sự giả dối, niềm tin đặt ở nơi người phụ rẫy mình… Như người bước hụt chân, tôi chọn cách lặng im để nói rằng mình đang ổn, là một phương thức làm lành những tổn thương. Có lúc, tôi nghĩ sự lặng im là phút giây những xúc cảm yêu thương đang hao mòn trong ý nghĩ.
Cha cởi chiếc áo tơi, máng lên vách phên rồi bước vô nhà. Trên tay cha là một cái hột vịt, trắng đục, còn vương mấy cọng rạ nhỏ. Tôi đoán rằng cha lại lượm đâu đó ngoài ruộng mương, từ những đàn vịt băng đồng ngập nước đẻ rớt mà chủ đàn lượm sót. Tôi lon ton theo cha xuống bếp. Cha đập hột vịt vô cái tô nhỏ, rồi ra ảng, lấy cái gáo dừa múc nước lạnh đổ vô cho xâm xấp miệng tô, nêm chút muối rồi lấy đũa đánh loãng ra. Đợi nồi cơm trên bếp sôi, chắt nước xong, cha đặt tô hột vịt vô nồi cơm rồi đậy vung lại. Tôi ngồi lì bên bếp, đợi cơm chín tới...
Ông Tư được bố mẹ vợ bảo lãnh sang Mỹ định cư. Ngày đùm đề vợ con rời đi, ông tự trấn an rằng khi mọi thử ổn định, ông sẽ quay về thăm quê. Ấy thế mà đã hơn hai mươi năm trôi qua, ông chưa một lần đặt chân trở lại. Ở xứ người, ông Tư làm ăn dành dụm được chút của, con cái thành đạt, cuộc sống sung túc nhưng khuôn mặt ông lúc nào cũng phảng phất buồn. Bởi trong lòng ông canh cánh nỗi niềm của một kẻ tha phương. Mấy bận định đặt vé máy bay về Việt Nam nhưng khổ nỗi cứ lên kế hoạch xong xuôi thì lại hủy. Không công việc đột xuất thì con cháu đứa này ốm đau, đứa nọ đám cưới, sinh đẻ… Vợ ông mất cách đây hơn chục năm, từ đó mọi việc lớn nhỏ trong nhà đều do một tay ông sắp xếp. Vì vậy, ông đành gác lại giấc mơ trở về trong suốt thời gian dài. Chần chừ mãi cho đến đầu năm vừa rồi, thằng Cả sang tu sửa lại cái sân. Chiều chiều hai cha con làm vài ly rượu. Nó bảo 'Cha vất vả nhiều rồi, giờ cha nhớ quê thì cha cứ về. Mọi chuyện ở đây có con lo'. Trong cơn men say, ông gật gù đồng ý. Thế là nó đặt vé ngay. Suốt những ngày sau đó, ông Tư cứ bồn chồn, náo nức như trẻ con chờ Tết. Ông mong thời gian trôi nhanh để được về thăm mồ mả tổ tiên, thắp cho ông bà nén nhang, đi thăm bà con lối xóm.
Một anh bạn nói đúng: 'Nếu ta không bước đi…', vâng, nếu ta không bước đi thì chẳng bao giờ tới nơi nào hay tới cái gì cả. Còn khi ta cứ tràng giang đại hải trên yên xe đạp, có khi cũng chẳng tới đâu. Nhưng vẫn hơn là ngồi một chỗ. Albert Einstein nói: 'Đời người như ngồi trên chiếc xe đạp. Chỉ có đi thì mới khỏi ngã'. Đi và chạy. Bây giờ, có một số em bé 2, 3 tuổi bị 'quy' là 'tăng động giảm chú ý'. Nhiều em nói rất chậm, ngược lại, chạy rất hăng. Khi nói chậm hay chậm nói, thì vận động tăng lên như một giải pháp thay thế.