Đêm, hương hoa ngào ngạt cả không gian nhỏ bé khu vườn nhà tỏa ra từ cây lộc mưng (lộc vừng) trước cổng. Sáng ra một lớp hoa đỏ rải thảm trên nền gạch thẫm. Mấy chú ong mật còn mê đắm mùi hương hay tìm kiếm chút mật nào sót lại nơi cuống hoa vừa rụng mà lưu luyến không rời. Nhìn cảnh ấy, mẹ già bất giác lại đọc câu ca dao quen thuộc 'Cá lẹp mà kẹp lộc mưng/ Chồng ăn một miếng vợ trừng mắt lên'. Hiểu được ẩn ý từ câu nói buột miệng của mẹ, vợ tôi lẳng lặng xách làn đi chợ. Trưa nay kiểu gì cũng có món ăn cả nhà yêu thích - món cá lẹp kẹp lộc mưng.
Kỷ niệm 49 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2024), hôm nay (16-4), Hội Mỹ thuật thành phố phối hợp Bảo tàng Mỹ thuật khai mạc triển lãm mỹ thuật chủ đề 'Nắng tháng Tư'. Đây là triển lãm lần đầu tiên tổ chức với một phần kinh phí được xã hội hóa thông qua tài trợ của Hiệp hội Quảng cáo thành phố Đà Nẵng và nhà sưu tập Lê Quang Khải, nhằm động viên khuyến khích họa sĩ trẻ dưới 40 tuổi có nhiều thành tích đóng góp cho phong trào hội nhiều năm qua.
Thật khó mà tin giữa lòng thành phố Đà Nẵng tấp nập, sôi động lại có một làng cò yên ả nên thơ đến thế. Không biết tự bao giờ loài chim trắng ấy đã về lập làng tại nơi đây. Tôi tạm gọi đó là làng Cò.
Dọn dẹp tâm trí chính là bước khởi đầu để chữa lành những tổn thương, nứt vỡ. Công việc ấy cần được thực hiện thường xuyên, chậm rãi như đang dọn lại một khu vườn. Bên cạnh việc bỏ đi những dây leo, cỏ dại gây ngổn ngang, ảnh hưởng, thì ta cũng cần từ tốn để giữ nguyên vẹn vẻ đẹp của những bông hoa.
Hồi nhỏ tôi sống cùng ông bà nội. Trước sân nhà lúc đó có một cây cóc. Cây cao lêu nghêu, với tán lá um tùm, quanh năm cho bóng mát và trái sai lúc lỉu, từng chùm trên cành đong đưa trong gió.
Sau những rực rỡ mai đào ngày Tết, những tiếng cười rộn rã niềm vui gặp gỡ mùa xuân; quê lại trở về nhịp sống đời thường trầm mặc như mái đình rêu phong nghìn năm cổ tích. Một sắc tím hoa xoan nơi ngõ quê sao cứ nôn nao lòng người giữa những cơn mưa riêu riêu hạt nhớ. Dẫu không còn thảng thốt với cảnh tháng ba ngày tám, vậy mà những khoảnh khắc xuân đã cạn ngày sao lòng ta không khỏi bâng khuâng về bóng dáng làng xưa!
Nhìn lại những khoảng thời gian quá vãng, tôi luôn cảm thấy biết ơn cuộc đời khi cho mình mạnh mẽ rời bến đỗ an toàn của gia đình để rời đi. Đi đến đâu, đi bao xa, đi để làm gì và đi cùng ai, những câu hỏi đó đã giúp tôi biết để định vị đúng những hành trình của mình… Giữa những hành trình ấy, tôi hạnh phúc khi có sự trở về đầy xúc động. Dẫu biết đó chỉ là những khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để chính mình thanh tân những nỗi niềm, nuôi dưỡng những mối quan hệ thân thương, và cũng để trường thiên hơn hành trình cuộc đời. Để rồi, khi sống trong khoảnh khắc tiếp tục rời đi sau mỗi lần được trở về, tôi luôn để chính mình chầm chậm để thẳm sâu…
Tôi sinh ra và lớn lên nơi xứ ruộng miệt đồng, xung quanh chỉ có lúa, có tràm, có sen… Nơi mà bà con nông dân ra đồng lúc trời còn hừng đông, về nhà khi trời đã đỏ đèn chạng tối. Đơn sơ, mộc mạc lắm nhưng có ai hỏi tuổi thơ nơi xứ đồng bưng có gì thì biết kể sao cho hết vì đó là cả một trời thương nhớ khôn nguôi trong tôi.
Những ngày này, cuộc sống xung quanh bỗng nhiên cấp tập, bận rộn hơn. Để sắp xếp, đắp đổi cho một mùa sum vầy thêm đủ đầy, ai ai cũng phải chạy đua với thời gian, ít người thong dong để nhìn nhận khách quan về những khoảng trống hay những cảm xúc phong phú khác nhau do thời gian mang lại.
Những cơn gió liu riu đầu Chạp dễ khiến lòng kẻ xa quê rung lên những khúc ngậm ngùi. Mới đó mà một năm cũng sắp sửa cạn cùng.
Bạn bè thường gọi 'Anh' nhưng Hoàng Đặng đã ngoài 'xưa nay hiếm' cũng khá lâu rồi. Hình như tuổi tác chưa làm giảm những tinh anh, đôi mắt ấy vẫn tinh tường. Ở anh có cái gì đó mâu thuẫn, rất trẻ trong phát hiện tình huống nhưng lại có chút đắn đo mỗi khi nghe nhận xét về ai đó. Xưởng vẽ thì ngổn ngang những toile, những lọ nhưng các típ màu thì lại ngay ngắn thứ tự, xanh đỏ phân minh. Hồi nhỏ rất nghiêm túc nhưng về già lại có chút bông đùa. Chiếc xe máy bao năm cà tàng nhưng chai Martell thì hảo hạng. Buổi sáng thường hay đăm chiêu nhưng buổi chiều thì thường sôi nổi, Hoàng Đặng luôn luôn khao khát thèm sống, thèm nhìn. Qua anh ta dễ nhận ra cái đẹp, cái xấu ở đời.
Một ngày mưa tầm tã, gió đông lùa se sắt, tôi nghe văng vẳng tiếng chuông chùa vọng lại. Dở lịch ra xem, đã đúng hẹn tháng mười. Chợt tôi thấy bâng khuâng, và lòng mình đang ngược dòng thời gian quay về thuở còn ấu thơ.
Không biết tự bao giờ mà mùa đông đã trở thành mùa nhớ? Phải chăng chính cái rét đặc trưng như muốn cắt da cắt thịt của nó mà khiến cho người ta tìm đến nỗi nhớ như thể là một phương cách để tự thắp lên cho mình những ngọn lửa tự tâm để sưởi ấm chính mình. Người ta nhớ nhiều, nhớ gia đình, người thân, nhớ những con người đã từng gặp, nhớ những cảnh vật, và bình dị hơn là nhớ cả một sắc cỏ mùa đông...
Nếu tôi càng ham hố gặp gỡ thì nội dung những cuộc giao tiếp sẽ nhạt nhẽo, chẳng có gì ấn tượng, nếu tôi càng cấp tập mua sắm thì chỉ rước về nhà những món đồ ngày càng ít dùng đến. Nếu ôm đồm một lúc làm nhiều việc thì sẽ chẳng có việc nào thật sự hiệu quả và để lại giá trị. Tôi cần lắng lại để được sống đầy.
Ở tuổi nổi loạn, Nguyệt thường hay bực dọc, khó chịu khi phải sống trong ngôi nhà tam đại đồng đường. Cô thường bĩu môi mỗi khi nghe khách khứa tới nhà khen gia đình mình có âm phúc. Cô cho rằng họ không nằm trong chăn nên không biết có rận. Cô chỉ tin lời bè bạn, chúng nói rằng bà ngoại Nguyệt khó tánh.
Chị kể má chồng sớm nay đòi chị chở đi đập tràn coi nước. Bà má bảo nghe nước về lớn lắm. Khỏi xác nhận bằng mắt chị cũng biết bà mơ. Dạo này bà hay mơ kiểu vậy. Nhưng bà già giảy nảy dữ quá khi con dâu nói mình chiêm bao. Mùi nước rõ ràng vậy mà mơ được sao, bây mơ thì có. Sự quả quyết của má khiến chị đâm ra ngờ chính mình.
Chị kể má chồng sớm nay đòi chị chở đi đập tràn coi nước. Bà má bảo nghe nước về lớn lắm. Khỏi xác nhận bằng mắt chị cũng biết bà mơ. Dạo này bà hay mơ kiểu vậy. Nhưng bà già giảy nảy dữ quá khi con dâu nói mình chiêm bao. Mùi nước rõ ràng vậy mà mơ được sao, bây mơ thì có. Sự quả quyết của má khiến chị đâm ra ngờ chính mình.
Dáng dấp làng quê và tuổi thơ ngô nghê bỗng hiện về, khi tôi bắt gặp hình ảnh người nắn tò he giữa ngã tư đèn đỏ.
Tháng ngày tuổi trẻ, tôi từng ngược xuôi tìm kiếm sự chân thành. Nghĩ rằng sự thành thật là thứ quan trọng nhất để yêu và được yêu. Nhưng rồi có nhiều khi, gieo chân thành mà lại gặp sự giả dối, niềm tin đặt ở nơi người phụ rẫy mình… Như người bước hụt chân, tôi chọn cách lặng im để nói rằng mình đang ổn, là một phương thức làm lành những tổn thương. Có lúc, tôi nghĩ sự lặng im là phút giây những xúc cảm yêu thương đang hao mòn trong ý nghĩ.
Cha cởi chiếc áo tơi, máng lên vách phên rồi bước vô nhà. Trên tay cha là một cái hột vịt, trắng đục, còn vương mấy cọng rạ nhỏ. Tôi đoán rằng cha lại lượm đâu đó ngoài ruộng mương, từ những đàn vịt băng đồng ngập nước đẻ rớt mà chủ đàn lượm sót. Tôi lon ton theo cha xuống bếp. Cha đập hột vịt vô cái tô nhỏ, rồi ra ảng, lấy cái gáo dừa múc nước lạnh đổ vô cho xâm xấp miệng tô, nêm chút muối rồi lấy đũa đánh loãng ra. Đợi nồi cơm trên bếp sôi, chắt nước xong, cha đặt tô hột vịt vô nồi cơm rồi đậy vung lại. Tôi ngồi lì bên bếp, đợi cơm chín tới...
Ông Tư được bố mẹ vợ bảo lãnh sang Mỹ định cư. Ngày đùm đề vợ con rời đi, ông tự trấn an rằng khi mọi thử ổn định, ông sẽ quay về thăm quê. Ấy thế mà đã hơn hai mươi năm trôi qua, ông chưa một lần đặt chân trở lại. Ở xứ người, ông Tư làm ăn dành dụm được chút của, con cái thành đạt, cuộc sống sung túc nhưng khuôn mặt ông lúc nào cũng phảng phất buồn. Bởi trong lòng ông canh cánh nỗi niềm của một kẻ tha phương. Mấy bận định đặt vé máy bay về Việt Nam nhưng khổ nỗi cứ lên kế hoạch xong xuôi thì lại hủy. Không công việc đột xuất thì con cháu đứa này ốm đau, đứa nọ đám cưới, sinh đẻ… Vợ ông mất cách đây hơn chục năm, từ đó mọi việc lớn nhỏ trong nhà đều do một tay ông sắp xếp. Vì vậy, ông đành gác lại giấc mơ trở về trong suốt thời gian dài. Chần chừ mãi cho đến đầu năm vừa rồi, thằng Cả sang tu sửa lại cái sân. Chiều chiều hai cha con làm vài ly rượu. Nó bảo 'Cha vất vả nhiều rồi, giờ cha nhớ quê thì cha cứ về. Mọi chuyện ở đây có con lo'. Trong cơn men say, ông gật gù đồng ý. Thế là nó đặt vé ngay. Suốt những ngày sau đó, ông Tư cứ bồn chồn, náo nức như trẻ con chờ Tết. Ông mong thời gian trôi nhanh để được về thăm mồ mả tổ tiên, thắp cho ông bà nén nhang, đi thăm bà con lối xóm.
Một anh bạn nói đúng: 'Nếu ta không bước đi…', vâng, nếu ta không bước đi thì chẳng bao giờ tới nơi nào hay tới cái gì cả. Còn khi ta cứ tràng giang đại hải trên yên xe đạp, có khi cũng chẳng tới đâu. Nhưng vẫn hơn là ngồi một chỗ. Albert Einstein nói: 'Đời người như ngồi trên chiếc xe đạp. Chỉ có đi thì mới khỏi ngã'. Đi và chạy. Bây giờ, có một số em bé 2, 3 tuổi bị 'quy' là 'tăng động giảm chú ý'. Nhiều em nói rất chậm, ngược lại, chạy rất hăng. Khi nói chậm hay chậm nói, thì vận động tăng lên như một giải pháp thay thế.
Buổi sáng bình yên nơi miền quê nhỏ. Con đường trải đầy đá xanh chạy dài thẳng tắp phía sau nhà, tôi đưa mắt nhìn qua con kênh nhỏ dẫn nước chảy vào ruộng, xa xa là đồng lúa bao phủ một màu xanh căng tràn nhựa sống. Lối về xóm nhỏ đưa tôi trở lại ngôi nhà mà ngoại để lại cho tía má dưỡng già trong những năm tháng tuổi xế chiều. Xóm nhỏ thân thương từng lắp đầy những ký ức đẹp đẽ, đầy yêu thương của tuổi thơ tôi.
Cơn mưa nhẹ bay trong trời chiều lay lắt gió, những bụi mưa đậu hững hờ lên mái tóc lơ thơ của má. Tôi chạnh lòng nhìn tấm lưng còng như đang khắc vào trời chiều một dấu chấm hỏi cô độc.
Đêm qua trời trở gió, tôi thao thức một khoảng chừng trong đêm để khoác lên mình tấm áo mỏng. Giữa thu rồi, không còn vương một chút nóng nực nào của mùa hạ như cái độ giao mùa. Đêm càng khuya càng lạnh, cái lạnh ấy đủ mơn man cảm giác của những con người xa quê ở trọ phố phường. Tôi nương mình vào những bờ suy nghĩ, rồi thoáng chốc tôi giật mình khe khẽ trước bước đi của thời gian: Hình như phố đã đón tháng mười!
Một chiều muộn. Công viên nhỏ xinh gần nhà tôi vẫn hỗn độn, xô bồ những âm thanh quen thuộc như mọi ngày. Tiếng nhạc phát ra từ chiếc loa xách tay ở khu vực trung tâm, nơi có sàn lát gạch, là hàng hàng lớp lớp các bà, các cô nhảy dân vũ nhiệt thành, háo hức, mê say, thuần thục. Là tiếng hò hét, í ới gọi nhau của các cháu bé đá bóng, đánh cầu lông. Là tiếng những chú chó cảnh quấn quýt vồ vập, chạy đuổi khi gặp nhau mỗi ngày vào thời điểm đầu sáng, cuối chiều...
Giờ cà phê bán đầy đường. Quán lớn quán nhỏ lố nhố mọc, nhanh như ai đó rải một nắm hạt giống xuống vùng đất ẩm sau mưa. Kiểu nào cũng có: từ mắc tới rẻ, từ sang trọng bề thế tới dễ thương hay xuề xòa vỉa hè, từ nguyên chất tới thêm đường sữa ngoại nhập đủ thứ loại… Càng có nhiều lựa chọn, phải chăng con người càng dễ phân vân? Nên sự đắn đo khiến thời gian dài ra, những cuộc hẹn cà phê cứ trôi theo vô tận mãi không định được ngày hẹn. Duy nhất chú, người đàn ông về hưu rảnh rỗi, là sẵn sàng gật đầu ừ khi tụi tôi hẹn cà phê. Chắc sợ tụi tôi cũng lây tính rề rà dễ lung lạc trước những lô lốc hàng quán đủ chủng loại Á Âu, chú luôn chọn trước quán. Thường bọn tôi đồng ý với đề nghị của chú, bởi đồng ý một đề nghị thường bao giờ cũng dễ hơn đưa ra một đề nghị khác.
Khí hậu miền Trung đang giao mùa, tờ mờ sáng, đường phố đã rộn rịp tiếng người đi lại, hướng về phía biển. Tranh thủ những ngày nghỉ, tôi hòa vào dòng người tìm chút không khí thoáng đãng bên bờ cát mịn màng cùng những con sóng xô bờ ào ạt.
'Em đi giữa biển vàng/ Nghe mênh mang trên đồng lúa hát...' Tôi nghe lại những câu từ ấy trong một thoáng tình cờ trên chuyến xe xuôi phố. Khúc ca giản dị một thuở say sưa tôi, nhưng bây giờ nó đã như một chuyến đò để ngược bến sông nay đưa tôi trở về miền xưa cũ, về với một thuở mênh mang của cánh đồng đang nao nức trong mùa gặt.
'Gập ghềnh xuống biển lên non Con đường tình nghĩa người còn nhớ chăng' (ca dao)
Đôi khi mình lại nhớ mình, nhớ mình trên những lối đi hẹp nhưng thênh thang biết mấy nụ cười. Không gian hoài niệm ấy hiện về không theo trình tự nào cả. Bất chợt chạm vào. Thoáng chốc hiện ra. Vệt thời gian đậm dần trên võ não. Con tim lại rung rinh nhịp đập thuở nào. Hành lang lớp học trong đời cầm phấn của mình là cả một miền ký ức trong trẻo, tươi tắn, sống động và đáng yêu vô cùng.
Những dãy núi vẫn bền bỉ kê mình vào nhau ấy thôi! Những cánh chim sau cuối cũng vẫn cứ tiếp nối nhau để làm thành những đường bay không bao giờ dừng lại ở bầu trời! Đời người cũng vậy, dẫu cũng có những lúc dùng dằng như con sông không chảy, dẫu có khi hoang hoải và trống rỗng như lau lách mùa đông, nhưng nó chẳng bất luận một lý do gì để dừng lại, ngoại trừ sự ngắn ngủi của sinh mệnh.
Giấc mơ về một vườn rau xanh tưởng chừng thật khó thành hiện thực khi phố chật hẹp, bê-tông phủ kín. Khát khao muốn nhìn một khoảng xanh xoa dịu nỗi nhớ quê hương, đồng ruộng đã biến mọi khó khăn thành nỗ lực…
1. Tho sống trong một căn nhà gỗ đơn sơ trong vườn dâu của người bác ruột, dưới chân cầu Xa. Trong nhà, ngoài vài thứ đồ dùng cần thiết thì kể ra chẳng có thứ gì đáng giá. Phía gian ngoài, có hai chiếc bàn thờ bằng gỗ. Một chiếc làm bàn thờ tổ tiên, một chiếc đặt di ảnh thờ ba má Tho. Nghe bác nói lúc Tho được gần một tuổi, ba má Tho lâm trọng bệnh, lần lượt ra đi cách nhau có một tháng. Nội ngoại đều già cả nên vợ chồng bác nhận nuôi đứa cháu gái mồ côi. Bác có ba đứa con, Tho được coi như đứa con gái út, nhỏ hơn các anh chị tầm tám chín tuổi. Cả bốn đứa đều được nuôi lớn lên bằng vườn dâu, ao cá, vạt rau gần suối, đàn gà sau nhà. Đám ruộng vườn này là hồi xưa cả hai vợ chồng bác ra công khai phá vạt rừng hoang bên này suối. Cứ mỗi ngày họ đánh gốc chặt cành, đốt lá dọn cỏ, trỉa lúa trồng khoai một chút; theo đó mà đất cũng trả lại cho quả ngọt hoa thơm. Nói thì dễ nhưng để được cơ ngơi như vậy cũng mất hàng chục năm đổ mồ hôi và nước mắt, thậm chí đổ máu… Những đứa con của bác lớn lên, đi học rồi sau đó đều đi làm xa nhà, nên chỉ có Tho cùng hai ông bà ở nhà. Hễ ông ngoài vườn thì bà trong bếp, luôn tay luôn chân.
Sáng nay tỉnh dậy, nơi căn phòng lặng lẽ cuối con phố của tôi ngập đầy những tia sáng. Tháng Tám, nắng vẫn vàng nhưng dìu dịu, sự gay gắt của những ngày hạ đã lắng dần. Cái nương tay của mấy cô bán hàng rong gánh hàng qua phố nay cũng nên thơ đến lạ. Con đường đầy gió thanh thoát, gió vương rơi những chiếc lá vàng. Mọi thứ trong cảm nhận của tôi thật nhẹ nhàng và dễ chịu. Tôi bước xuống phố rồi bắt đầu một ngày làm việc mới bằng tâm thế ấy.
Nơi ấy ta mãi mãi thuộc về dù thời gian và không gian có đằng đẵng xa cách, dù ta có thành công hay thất bại, vững vàng hay lạc bước… Nơi ấy luôn giang rộng vòng tay để đỡ lấy, ôm lấy những đứa con của mình để mà thương, mà nhớ, mà vỗ về, mà ru vỗ. Đó là căn nhà của mỗi người, nơi 'bão đứng sau cửa' như cách người ta hay nói với nhau.