Theo biểu lãi suất huy động tại quầy được cập nhật từ 28 ngân hàng, mức lãi suất tiền gửi đang dao động khá rộng giữa các kỳ hạn và từng tổ chức tín dụng.
Lãi suất huy động hiện có xu hướng tăng dần theo kỳ hạn gửi, với mức chênh lệch khá lớn giữa các ngân hàng. Điều này tạo thêm lựa chọn cho người gửi tiền khi cân nhắc giữa yếu tố thanh khoản và mức sinh lời của khoản tiền gửi.
Dù các ngân hàng đang có những chiến lược tín dụng khác nhau, bất động sản vẫn được xem là lĩnh vực trọng tâm. Tuy nhiên, dòng vốn vào lĩnh vực này đang được định hướng theo hướng thận trọng và chọn lọc hơn.
Khảo sát biểu lãi suất huy động của 29 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiền gửi hiện dao động từ 0,05% đến 7,5%/năm tùy kỳ hạn và sản phẩm. Nhóm kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng tiếp tục ghi nhận mức lãi suất cao nhất trên thị trường.
BIDV tăng lãi suất huy động lần thứ 2 trong tháng 6 với mức lãi suất huy động cao nhất theo niêm yết lên đến 7,4%/năm.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 27 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn. Nhóm kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng ghi nhận nhiều mức lãi suất từ 6%/năm trở lên, trong khi kỳ hạn ngắn dưới 3 tháng phổ biến dao động từ khoảng 2% đến dưới 5%/năm.
Theo biểu lãi suất huy động tại quầy được công bố tại 27 ngân hàng thương mại, mặt bằng lãi suất tiền gửi hiện dao động từ 2,1% đến 7%/năm tùy kỳ hạn và từng tổ chức tín dụng.
Theo bảng lãi suất, phần lớn các ngân hàng hiện tập trung nâng lãi suất ở nhóm kỳ hạn từ 12 tháng trở lên nhằm thu hút nguồn vốn dài hạn; trong khi đó, lãi suất không kỳ hạn vẫn ở mức rất thấp, phổ biến từ 0,05% đến 0,5%/năm.
Lãi suất huy động tại quầy giữa các ngân hàng tiếp tục duy trì khoảng cách khá lớn, đặc biệt ở các kỳ hạn trung và dài hạn. Trong đó, MBV đang là ngân hàng niêm yết mức lãi suất cao nhất thị trường ở kỳ hạn 12 tháng: 7%/năm.
Trong khảo sát, trong khi nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giữ mức lãi tương đối ổn định, nhiều ngân hàng cổ phần đang áp dụng mức lãi từ 6% - 7,5%/năm ở các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.
Dù quy mô tuyệt đối không lớn nhất, SHB và BVBank đang là hai cái tên nổi bật về mức độ tập trung tín dụng vào bất động sản, với tỷ trọng dư nợ bất động sản vượt ngưỡng 30% trên tổng dư nợ.
Mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục ghi nhận sự chênh lệch đáng kể giữa các ngân hàng. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức lãi dưới 6%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đang niêm yết lãi suất từ 6,5-7,5%/năm cho các khoản tiền gửi trung và dài hạn.
Thống kê từ 14 ngân hàng niêm yết cho thấy dư nợ liên quan đến bất động sản đã tăng gần 7% so với cuối năm trước, vượt mốc 1,58 triệu tỷ đồng.
NHNN vừa cho phép 25 NHTM loại trừ phần dư nợ tín dụng tăng thêm đối với các khoản vay nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất khi xác định mức tăng trưởng tín dụng bất động sản năm 2026.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa cho phép 25 ngân hàng thương mại loại trừ phần dư nợ tín dụng tăng thêm đối với các khoản vay nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.
Động thái này nhằm tạo điều kiện mở rộng tín dụng cho các lĩnh vực được ưu tiên, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Sau làn sóng giảm lãi suất diện rộng diễn ra từ đầu tháng 4, mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường hiện đã hạ nhiệt. Dù vậy, một số ngân hàng thương mại vẫn duy trì mức lãi suất ưu đãi từ 7% trở lên cho các kỳ hạn dài hoặc đi kèm điều kiện cụ thể.
Theo biểu lãi suất huy động tại quầy được các ngân hàng niêm yết, mặt bằng lãi suất tiết kiệm hiện dao động từ 2,1% đến 7%/năm tùy kỳ hạn và từng tổ chức tín dụng.
Lãi suất huy động ngày 31/5/2026 tiếp tục phân hóa giữa các nhóm ngân hàng. Trong khi kỳ hạn dưới 6 tháng phổ biến quanh mức trần 4,75%/năm, nhiều ngân hàng niêm yết lãi suất trên 6%/năm ở các kỳ hạn 6, 9 và 12 tháng.
Trong quý I, VPBank rót thêm hơn 31.000 tỷ đồng cho vay kinh doanh bất động sản, trong khi MB và HDBank cũng đẩy mạnh giải ngân.
Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức lãi tương đối thấp ở kỳ hạn ngắn, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần vẫn áp dụng mức từ 6-7,5%/năm cho các khoản tiền gửi trung và dài hạn nhằm tăng sức cạnh tranh huy động vốn.
Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm tại nhiều ngân hàng cho thấy mức niêm yết lãi suất huy động dao động mạnh theo từng kỳ hạn, từ 0,05%/năm với tiền gửi không kỳ hạn đến trên 7%/năm ở một số kỳ hạn trung và dài hạn.
Quý I/2026, thu nhập nhân viên ngân hàng tiếp tục tăng nhẹ, trung bình đạt 35,5 triệu đồng/tháng. TPBank dẫn đầu toàn ngành với mức chi hơn 68 triệu đồng/người mỗi tháng, cao hơn cả nhóm ngân hàng lớn như Techcombank, MB,...
Quý đầu năm 2026, Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) cho thấy bức tranh kinh doanh có nhiều điểm sáng về tăng trưởng lợi nhuận, quy mô tín dụng và huy động vốn, nhưng đồng thời vẫn tồn tại những áp lực đáng chú ý liên quan đến chất lượng tài sản, chi phí dự phòng và hiệu quả hoạt động cốt lõi.
Dữ liệu lãi suất huy động tại quầy được niêm yết tại gần 30 ngân hàng cho thấy, nhiều ngân hàng thương mại đang áp dụng mức lãi suất trên 6%/năm cho các khoản tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong bối cảnh nhu cầu huy động vốn trung và dài hạn gia tăng.
Bức tranh nhân sự ngành ngân hàng trong quý I/2026 cho thấy sự phân hóa rõ nét khi nhiều nhà băng mạnh tay tinh giản bộ máy, trong khi một số khác vẫn tiếp tục tuyển dụng để mở rộng hoạt động.
Ngành ngân hàng đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh khi nhiều nhà băng đồng loạt cắt giảm nhân sự, đẩy mạnh tự động hóa nhưng vẫn tăng chi cho người lao động có hiệu suất cao…
Tiền gửi dân cư tiếp tục chảy mạnh vào ngân hàng trong những tháng đầu năm 2026, trong khi dòng vốn từ doanh nghiệp lại có xu hướng rút ra, tạo nên bức tranh trái chiều hiếm thấy trên thị trường huy động…
Dòng tiền từ túi tiền người dân vẫn miệt mài chảy vào hệ thống ngân hàng khi lãi suất biến động. Điều này trái ngược với sự sụt giảm mạnh từ khối doanh nghiệp.
Khảo sát lãi suất huy động ngày 25/5/2026 cho thấy lãi suất gửi tiết kiệm trực tuyến (online) tiếp tục vượt trội so với tại quầy, mức chênh từ 0,1 đến 3,1 điểm phần trăm tùy kỳ hạn. Chênh lệch lớn nhất giữa gửi trực tuyến và tại quầy nằm ở kỳ hạn 6 tháng, đồng thời tập trung ở nhóm Big4...
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy được niêm yết tại các ngân hàng cho thấy xu hướng ưu tiên lãi suất cao cho các khoản tiền gửi trung và dài hạn, trong khi kỳ hạn ngắn vẫn phổ biến quanh mức 2-5%/năm.
Dù đối mặt với nhiều biến động thị trường, hiệu suất lao động của nhân viên ngân hàng vẫn ghi nhận sự cải thiện đáng kể nhờ chiến lược đẩy mạnh số hóa và tối ưu bộ máy.
Lãi suất cho vay bình quân tại nhiều ngân hàng đã nhích lên trong tháng 4 do nguồn vốn huy động trước đó ở mức cao. Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát mặt bằng lãi suất nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Hội thi chuyển đổi số ngành ngân hàng 2026 thể hiện quyết tâm đổi mới, thúc đẩy nền kinh tế số hiện đại, an toàn và phát triển bền vững.
Biểu lãi suất huy động tại quầy do các ngân hàng niêm yết cho thấy, mặt bằng lãi suất ở nhóm kỳ hạn trung và dài hạn vẫn duy trì ở mức khá cao, nhiều ngân hàng thương mại quy mô tầm trung đang áp dụng lãi suất từ 6%/năm trở lên cho các khoản tiền gửi kỳ hạn từ 6-24 tháng.
Theo thống kê của VnEconomy, đến cuối quý 1/2026, tổng tiền gửi khách hàng tại 27 ngân hàng niêm yết đạt khoảng 12,88 triệu tỷ đồng, tăng 32,9 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2025, tương ứng mức tăng khiêm tốn 0,26%. Đáng chú ý, có tới 12/27 (44,4%) ngân hàng ghi nhận sụt giảm tiền gửi, phản ánh bức tranh huy động vốn phân hóa rõ nét ngay từ đầu năm…
Thị trường tiền gửi tiết kiệm đang có sự phân hóa rõ nét tại các kỳ hạn. Đây là thời điểm người gửi tiền tìm hiểu kỹ biểu lãi suất thay vì chỉ trung thành với ngân hàng đã quen.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy được niêm yết tại ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiết kiệm tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn và từng nhóm nhà băng; trong đó, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đang duy trì mức lãi suất cạnh tranh hơn đáng kể so với nhóm ngân hàng quốc doanh, đặc biệt ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất huy động tại quầy được niêm yết tại các ngân hàng hiện dao động phổ biến từ 3 - 5%/năm đối với các kỳ hạn ngắn và trên 6%/năm ở nhóm kỳ hạn dài. Đáng chú ý, mức lãi suất giữa các ngân hàng tiếp tục có sự phân hóa rõ nét, đặc biệt tại các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.