Sự huyền diệu của nước!
Quê hương - quê gốc của tôi là một làng nhỏ nằm ghé bên bờ bắc con sông Mã và cầu Hàm Rồng lịch sử (cây cầu gắn với chiến công quân và dân ta đánh Pháp, đánh Mỹ xâm lược).

Quê hương và những kỷ niệm...
Quê hương tôi, đó là làng Yên Vực, xã Hoằng Long, huyện Hoàng Hóa. Bây giờ những địa danh ấy chỉ còn là dĩ vãng vì đã biến mất trong các văn bản nhà nước do đã bỏ huyện, nhập các phường, xã lại với nhau. Làng Yên Vực quê tôi là một xóm nhỏ trong phường Nguyệt Viên. Những cái tên cũ về làng, xã, huyện chỉ còn cố neo đậu lại ở ký ức những người tuổi trung niên và người già mà thôi.
Thế hệ sau chắc rằng mấy ai biết đến những cái tên có dấu vết lịch sử hàng thế kỷ như thế!
Nước sông Mã chảy qua đoạn eo hẹp giữa hai ngọn núi (núi Ngọc ở bờ bắc và và núi Hàm Rồng ở bờ Nam) nên hầu như quanh năm đều chảy lồng lên như ngựa phi, kể cả khi hiền hòa nhất nó vẫn thể hiện nguồn lực nội tại cuồn cuồn ngầm sâu ở lòng sông. Chắc vì thế mà dòng sông ấy được đặt tên là sông Mã.
Dân làng tôi sống gắn với nước sông Mã, chết cũng gắn với nước sông Mã. Người dân làng Yên Vực ngày trước đều dùng nước sông Mã để nấu nướng, ăn uống, giặt giũ, sinh hoạt. Khát thì uống nước sông Mã, nóng thì ra tắm sông Mã, rồi giặt quần áo, cọ rửa,… Ngay cả gột rửa những thứ rác trong người, người ta cũng ra sông Mã. Nước rửa mọi thứ theo nghĩa vật lý, nước cũng rửa những vẩn đục của tâm hồn hoặc như chất trung hòa làm lành lại những tổn thương.
Trên đời không có gì là vô tận. Điều tốt càng không phải vô tận. Nước cũng vậy.
Nhớ thời giặc Mỹ ném bom miền Bắc, hầu hết những vùng gia đình tôi sơ tán như xã Vĩnh Minh, xã Vĩnh An (huyện Vĩnh Lộc), xã Dân Quyền (huyện Triệu Sơn)… đều gần sông, hồ. Sông to, sông nhỏ, sông tự nhiên, sông đào, sông nông giang… ở khắp các vùng nông thôn. Bà nội tôi có câu nói về nước đã đóng đinh vào đầu tôi cho đến bây giờ "Lấy nước làm sạch"!
Quê hương với những bài học tuổi thơ không thể nào quên...
Ở quê tôi ngày trước, nhiều người thường cố tình để quả dừa trên cây đến độ đủ già để vừa ăn được cùi vừa dùng vỏ làm gáo múc nước. Mỗi khi dùng nước dừa và cùi xong, người ta cưa bỏ đi một phần vỏ quả dừa, rồi khoan 2 lỗ, cắm thanh tre gọt nhọn vào đó sẽ được một cái gáo dừa dùng để múc nước.
Có những bài học của tuổi thơ tôi không được dạy bằng sách vở. Chúng đến từ đôi bàn tay nhăn nheo của bà, từ một căn bếp nghèo, từ chiếc gáo dừa múc nước được chắt chiu như chắt chiu từng hạt gạo trong những năm tháng đói kém, cơ hàn.
Tuổi thơ tôi lớn lên cùng một niềm tin giản dị: bất cứ thứ gì bẩn, qua tay bà nội và mẹ dùng nước rửa đều trở nên sạch sẽ. Chiếc rổ dính đầy bùn đất sau buổi đi chợ, cái xoong ám khói bếp, đôi chân lấm lem của tôi sau một ngày mót lúa, mót khoai, mót cá, mót cua ngoài đồng..., tất cả đều được bà nội và mẹ trả lại vẻ tinh tươm bằng thứ nước quý giá được gánh về từ giếng. Tôi luôn có cảm giác nước trong tay bà và mẹ không đơn thuần là nước. Nó giống như một thứ quyền năng mềm mại và huyền hoặc. Dù ít hay nhiều, dù đầy chum hay chỉ còn lưng gáo, bà vẫn biết cách để nước phát huy đến giọt cuối cùng giá trị của nó.
Ngày ấy, ở nơi sơ tán vùng sâu, vùng xa, nước là một tài sản thực thụ. Giếng đào cạn và ít nước, khi kéo nước lên thì nó vàng như màu nghệ, đục và nặng mùi đất. Mẹ tôi phải xây những bể lọc nhỏ, đổ đầy cát, đặt ở độ cao khác nhau để nước chảy qua từng tầng. Sau 3 lần lọc, nước mới trong hơn một chút rồi cuối cùng chảy xuống cái chum. Nhưng lượng nước ấy chẳng đáng là bao. Cả gia đình tôi 9 người phải sống trong sự dè sẻn và biết ơn từng giọt nước quý hiếm.
Chính trong hoàn cảnh ấy, bà nội trở thành người thầy đầu tiên dạy tôi triết lý sử dụng nước của người Thanh Hóa. Đó là thứ triết lý được sản sinh từ nghèo khó nhưng chứa đựng sự khôn ngoan của nhiều thế hệ.
Tôi còn nhớ cách bà dạy đánh răng. Một gáo nước nhỏ được múc từ cái chum được áp "định mức" chỉ để dùng đánh răng, rửa mặt. Bà yêu cầu tôi chỉ dùng một nửa gáo nước cho việc đánh răng, một phần tư nước chao vào lòng bàn tay trái và từ lòng bàn tay ấy, từng chút nước được đưa lên rửa mặt. Chỗ nước còn lại (một phần tư) trong gáo không được phép đổ đi. Bà yêu cầu tôi nghiêng chiếc khăn mặt, rót chậm chậm số nước còn lại lên chiếc khăn rồi dùng khăn lau mặt. Thế là xong việc vệ sinh buổi sáng hoặc buổi tối trước khi đi ngủ.

Ấn tượng nhất vẫn là cách bà hướng dẫn tôi "tắm quạ" giữa những trưa hè bỏng rát. Bà yêu cầu tôi cởi áo, cúi người xuống để mặt gần chạm đầu gối. Rồi từ từ, bà dội nửa gáo nước lên lưng tôi. Dòng nước mát lập tức trườn qua vai, cổ, ngực. Trong khi đó, tôi phải nhanh chóng dùng hai bàn tay xoa theo dòng chảy của nước kỳ cọ người như thể không được để lãng phí một giọt nào. Nửa gáo còn lại được bà yêu cầu tôi rót thật chậm lên chiếc khăn mặt đã dùng rửa mặt từ trước. Chiếc khăn thấm nước ấy đi khắp lưng, vai, cổ, ngực, bụng. Vậy là xong một lần tắm giữa trưa hè nóng rực.
Điều kỳ lạ là cái nóng gay gắt của mùa hè dường như cũng tan biến. Da thịt mát rượi. Cả người tôi nhẹ nhõm và sảng khoái. Nhiều năm sau, khi đã quen với những phòng tắm hiện đại, với những vòi sen tuôn nước không ngừng, tôi vẫn không tìm lại được cảm giác dễ chịu đặc biệt của những lần "tắm quạ" ấy.
Lúc ấy tôi thấy việc làm của bà nội thật bình thường. Chỉ đến nhiều năm sau, khi đã trưởng thành, khi hưởng thụ hầu hết những hình dạng, cách thức của nước ở những hoàn cảnh dư dả khác nhau, tôi mới hiểu đằng sau từng động tác nhỏ của bà là cả một nền văn hóa tiết kiệm được hình thành từ những tháng năm thiếu thốn.
Cũng giống như sau này tôi mới hiểu việc mẹ tôi nhặt và nâng niu từng hạt cơm tôi làm rơi trong khi ăn và gọi đó là những hạt ngọc, tôi mới hiểu văn hóa tiết kiệm của mẹ là thế nào! Và đó cũng là văn hóa sống thích nghi, hài hòa với hoàn cảnh – điều mà sau này người ta dành nhiều trí lực để định nghĩa về thái độ và kỹ năng sống thích nghi và sự hài hòa của con người, rộng hơn là các nền văn hóa!
Bây giờ nghĩ lại, tôi hiểu điều làm tôi nhớ không phải là nước, là hạt cơm làm rơi trong bữa ăn thanh đạm. Mà đó là bà nội và mẹ - những người phụ nữ Thanh Hóa điển hình. Là dáng bà, dáng mẹ nhỏ bé lom khom bên chum nước sau nhiều lần lọc qua cát. Là sự kiên nhẫn của những người phụ nữ đã đi qua chiến tranh, đói nghèo và những mùa hạn khắc nghiệt. Là đôi bàn tay biết biến sự thiếu thốn thành tạm đủ, biến những hạt gạo quý hiếm thành những hạt ngọc, và biến vài gáo nước ít ỏi thành sự sạch sẽ, mát lành và bình yên cho cả gia đình.
Người ta thường nói nước có khả năng làm sạch bụi bẩn. Nhưng với tôi, nước còn làm sạch cả ký ức. Mỗi lần nhớ về những chiếc gáo dừa được làm từ vỏ quả dừa già, nhớ về những bể lọc cát của mẹ, nhớ về những buổi trưa bà tắm cho tôi bằng một gáo nước, lòng tôi chợt run rẩy như đang được gột rửa khỏi sự vô tâm và bàng quan của mình trong nhiều năm qua.
Chỉ những thế hệ từng sống trong nghèo khó mới hiểu hết giá trị của mỗi giọt nước, mỗi hạt cơm. Và cũng chỉ những người như bà nội và mẹ tôi mới có thể nâng nghệ thuật tiết kiệm lên thành một thứ triết lý sống đẹp đẽ: sống biết đủ, biết quý trọng những gì mình có và biết làm nên sự đủ no, sự sạch sẽ, tử tế từ những điều nhỏ bé nhất trên đời.
Với nghĩa thực mang tính vật lý, nước là phương tiện để rửa sạch bụi bẩn, làm sạch cơ thể, đồ vật và môi trường sống, nước nuôi con người, động vật và thực vật... Nói tóm ngọn là nước làm nên sự sống, nước là sự sống. Với nghĩa tinh thần theo văn hóa Việt Nam, nước được coi là biểu tượng của sự trong lành, tinh khiết của tâm hồn, nước có khả năng thanh lọc, gột rửa tâm hồn, nước có sự mềm mại nhưng bền bỉ, nước là nguồn sống và sự tái sinh…
Vì vậy, "Lấy nước làm sạch" không chỉ nói đến hành động vật chất mà còn có ý nghĩa như một giá trị tinh thần trong sáng, thiện lành để loại bỏ cái xấu, cái tiêu cực. Và, nước không chỉ gột rửa, thanh lọc. Nước còn làm cho tâm hồn con người cân bằng, làm dịu nỗi đau bằng sự bù đắp của nó…
Nhớ một chiều tháng 5 năm nào, sau khi ra ga Thanh Hóa tiễn cô bạn thân học lớp 8 (hệ phổ thông 10 năm) theo bố mẹ vào Nam (để rồi cho đến bây giờ vẫn chưa hề gặp lại) tôi đã đạp xe trong vô định. Chẳng hiểu sao tôi lại dừng xe ngay trên đê Sông Mã. Nhìn ánh nắng hoàng hôn tràn ngập mặt sông, phía xa kia là dãy núi miên mang, tôi bỗng đọc mấy câu thơ trong bài "Tống biệt hành" của Thâm Tâm: "Đưa người, ta không đưa qua sông/Sao có tiếng sóng ở trong lòng?/Bóng chiều không thắm, không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?".
Trước đó, cảm giác mất đi một cái gì quý giá diễn ra trong tâm hồn cậu học trò 15 tuổi nó mênh mang vô tận, tưởng như không có gì bù đắp nổi. Nhưng sau khi đã gặm nhấm đủ mùi đau khổ, tôi đã bình tâm trở lại. Tôi không chỉ cảm thấy mắt mình TRONG hơn, mà tâm hồn mình cũng TRONG hơn. Tôi cảm nhận tâm hồn mình thật thanh khiết như ban mai thức dậy sau hoàng hôn. Ngay lúc đó tôi cảm nhận được sự huyền diệu của nước: Nước gột sạch bụi bẩn, nước làm sạch mọi thứ, nước làm sạch tâm hồn, và nước làm dịu đi nỗi đau…
Người Thanh Hóa quên tôi cũng như tất cả người dân nước Việt từ ngàn đời nay sống bên sông nước. Từ những dòng sông đỏ nặng phù sa đến những cơn mưa mùa hạ, từ giếng làng đến ao sen trước ngõ - nước không chỉ là một phần của thiên nhiên mà còn là một phần của tâm hồn con người. "Lấy nước làm sạch" nghe qua tưởng chỉ là một kinh nghiệm đời thường, nhưng trong đó chứa đựng một triết lý sống sâu sắc của nhiều đời người.
Nước là thứ gần gũi nhất với sự sạch sẽ. Nước rửa sạch mọi thứ, nước làm mát mọi thứ. Con người từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành và cả khi rời xa trần thế đều gắn bó với nước. Không có nước, sự sống không thể tồn tại. Không có nước, cây cối khô héo, đất đai cằn cỗi và con người cũng mất đi nguồn sinh lực. Nước có khả năng thanh lọc kỳ diệu. Nước len lỏi vào từng ngóc ngách, thấm sâu vào lòng đất, cuốn theo những gì ô uế để trả lại sự trong lành. Tạo hóa sinh ra nước và gửi vào nước một sứ mệnh đặc biệt: nuôi dưỡng và làm sạch.
Trong đời sống tinh thần, nước là một biểu tượng triết lý nhân văn. Nước trong trẻo như tâm hồn con người khi không vướng bụi lợi danh. Nước mềm mại nhưng không yếu đuối. Dòng nước có thể uốn mình trước ghềnh đá, nhưng qua năm tháng lại chính là thứ mài mòn những tảng đá tưởng như bất khả xâm phạm. Vì thế, người xưa thường xem nước là hình ảnh của đức tính khiêm nhường, bao dung và bền bỉ.

Cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã - tọa độ lửa trong chiến tranh chống Mỹ.
"Lấy nước làm sạch" vì vậy ở góc nhìn tinh thần có thể hiểu là lấy sự trong lành để gột rửa những điều đục bẩn trong tâm hồn. Trong cuộc sống, con người không chỉ bám bụi trên quần áo, vật dụng, mà còn bị bám bụi trong tâm hồn: Đó là những cơn giận dữ, sự đố kỵ, lòng tham, những suy nghĩ tiêu cực hay những tổn thương chất chứa trong đời. Những thứ ấy không thể rửa bột tẩy rửa. Chúng cần một dòng nước thiện lành, dòng nước của lòng vị tha, của sự cảm thông và chia sẻ.
Nước còn dạy con người bài học về sự thích nghi. Dòng nước gặp vật cản sẽ đổi hướng nhưng không dừng lại. Nó không cố chấp tranh thắng với đá núi mà tìm con đường riêng để tiếp tục hành trình theo nguyên lý "nước chảy chỗ trũng". Trong cuộc sống từ ngày xa quê đi học và sinh sống ở Hà Nội đến nay, nhiều lần tôi gặp khó khăn, nguy cơ thất bại hiện hữu trước mặt. Nếu chỉ dùng sự cứng nhắc để đối mặt, rất dễ gãy đổ. Nhưng học được phẩm chất của nước như biết mềm mại, biết thay đổi, biết chấp nhận để dung hòa và học hỏi người khác, tôi đã nhiều lần vượt qua nghịch cảnh để tồn tại ở đất khách quê người đầy rẫy cạm bẫy.
Nước có khả năng tự làm mới bản thân vì cơ chế luôn vận động. Dòng sông hôm nay không còn là dòng sông của ngày hôm qua. Nước luôn chảy, luôn vận động, con người cũng vậy. Mỗi ngày mới là một cơ hội để gột rửa những điều cũ kỹ, sửa chữa, bù đắp những khiếm khuyết và bắt đầu lại bằng tâm thế mới. Khi biết tự thanh lọc tâm hồn, con người sẽ tìm thấy sự bình an từ bên trong.
"Lấy nước làm sạch" vì thế mà không chỉ là kinh nghiệm sinh hoạt mà còn là một triết lý nhân sinh. Nó nhắc tôi rằng muốn yêu người khác trước hết phải làm sạch chính mình; muốn xóa bỏ điều tiêu cực của mình phải hướng đến những giá trị tích cực; muốn hóa giải mâu thuẫn phải dùng lòng nhân ái, lòng bao dung. Nước trong tự nhiên làm sạch thân thể, còn "nước" trong tâm hồn sẽ làm bản thân ta thiện lành hơn.
Đến tuổi U70, giữa một cuộc sống vẫn biến động không ngừng, tôi nhận thấy rằng mình vẫn cần cần trở về với bài học giản dị của nước. Hãy cố gắng sống như nước: trong lành, khiêm nhường, bền bỉ và không ngừng thanh lọc. Bởi có một chân lý rất giản dị mà không phải ai cũng thấy, không phải ở lứa tuổi nào cũng nhận ra: chỉ khi tâm hồn đủ trong, ta mới nhìn thấy vẻ đẹp của cuộc đời chính ta và vẻ đẹp của cuộc sống, từ đó tìm được sự bình yên thiện lành cho chính mình.
Bây giờ, mỗi lần trở về quê Thanh Hóa, tôi vẫn tìm cách đứng thật lâu bên bờ sông Mã, nơi có cầu Hàm Rồng. Dòng sông Mã vẫn chảy qua khoảng eo hẹp giữa núi Ngọc và núi Hàm Rồng như từ hàng nghìn năm trước. Nước vẫn cuồn cuộn mang nặng phù sa, vẫn hối hả như một đàn ngựa phi không biết mệt.
Chỉ có những cái tên thân thuộc của quê hương tôi đang dần lùi vào ký ức. Nhưng cái tên địa danh như Yên Vực, Hoằng Long, Hoằng Hóa của một thời đã không có trên bản đồ hành chính mới. Nhưng chúng vẫn tồn tại trong lòng những người sinh ra từ dòng nước ấy, như những con thuyền cũ neo đậu ở bến sông ký ức mỗi người.
Tôi hiểu rằng có những thứ tưởng như biến mất nhưng thực ra chưa bao giờ mất đi. Giống như nước sông Mã ngày hôm nay không còn là nước của ngày hôm qua, nhưng dòng sông vẫn là dòng sông ấy. Nhiều thế hệ người làng Yên Vực đã uống nước sông Mã, tắm mình trong nước sông Mã, gửi tuổi thơ, tuổi thanh xuân và cả cuộc đời mình vào dòng nước sông Mã.
Khi sống, họ tìm đến dòng sông để giải cơn khát, rửa sạch bùn đất và những nhọc nhằn, bù nước mát cho từng tế bào cơ thể. Khi buồn vui, họ tìm đến dòng sông như tìm đến một người bạn tri kỷ. Và khi về với đất, một phần ký ức của họ cũng hòa vào dòng nước ấy để tiếp tục cuộc hành trình vô tận của thời gian.
Đó chính là quyền năng huyền diệu nhất của nước. Nước không chỉ nuôi dưỡng sự sống mà còn gìn giữ ký ức. Nước không chỉ làm sạch thân thể mà còn làm dịu những vết xước của tâm hồn. Nước cuốn đi những điều cũ kỹ, nhưng đồng thời cũng lưu giữ những gì sâu nặng nhất trong lòng người.
Bởi vậy, mỗi khi nghĩ về nước, tôi không chỉ nghĩ về những gáo nước bà nội chắt chiu, những bể lọc bằng cát của mẹ, hay những buổi "tắm quạ" của tuổi thơ. Tôi nghĩ về dòng sông Mã quê mình - dòng sông đã nuôi lớn biết bao thế hệ và âm thầm dạy cho họ bài của cuộc đời: hãy sống như nước, biết cho đi, biết thanh lọc, biết bao dung và không ngừng chảy về phía trước.
Một ngày nào đó, khi tất cả những địa danh, những mái nhà và cả những con người hôm nay chỉ còn là ký ức mờ nhạt, nhưng dòng sông Mã vẫn chảy ra biển. Và trong tiếng nước cuộn mình qua chân núi Hàm Rồng, núi Ngọc biết đâu vẫn còn vang vọng những câu chuyện của một ngôi làng nhỏ bên bờ bắc, nơi có những con người đã sống, đã yêu thương và đã gửi cả cuộc đời mình cho nước như bà nội tôi, mẹ tôi!
Hà Nội – đầu tháng 6/2026











