Sắc cờ thời xưa

Chúng ta thường nghe kể rằng thời Nguyễn ở nước ta, vua treo cờ vàng, nhưng ít người biết rằng vua còn có nhiều sắc cờ khác nữa.

Màu cờ chính thức của các thời trước đến các đời Lý, Trần, Lê, hiện không có sách nào nói rõ. Như ghi chép trong sử cũ, thì khi mô tả về Vua Đinh Tiên Hoàng lúc còn trẻ, đã có chi tiết: “Hễ ngài đi đâu, chúng cứ phải tréo tay làm kiệu rước đi, giống như kiệu thật; lại lấy bông lau làm cờ rước kèm hai bên làm như nghi vệ thiên tử”, nhưng đến khi vua lên ngôi thì không rõ cờ của vua thế nào.

Các loại cờ phướn trong lễ rước Vua Bảo Đại đi tế Nam Giao năm 1933. Ảnh: EFEO

Các loại cờ phướn trong lễ rước Vua Bảo Đại đi tế Nam Giao năm 1933. Ảnh: EFEO

Hay, thời Tiền Lê, sách “Đông Tây dương khảo” của Trương Nhiếp nhà Minh có chép lại sự việc Tống Cảo đi sứ sang nước ta để sắc phong cho Vua Lê Hoàn trở về, nói với vua Tống rằng: “Năm ngoái, đến Giao Châu, Lê Hoàn đem quân và dân bơi thuyền, gióng trống, hò reo; những núi ở gần đô thành (tức Hoa Lư) thì hư trương thanh thế, cắm rặt cờ trắng, làm như dáng vẻ bày binh bố trận”. Hay, thời Lý, khi mô tả về lễ sinh nhật Vua Lý Thánh Tông với tên gọi là tiết Thiên Thánh, sử sách cũng chép nghi thức “Kết trúc làm núi Vạn Thọ Nam sơn, núi có 5 ngọn, sườn núi cắm đầy cờ xí, treo xen vàng ngọc; cho phường chèo đến trong núi, thổi kèn, thổi sáo, múa hát để mua vui”. Đây cũng chỉ là mô tả về cờ trang trí, chứ không nói đến cờ chính thức của triều đình.

Thời Trần, sử sách cũng không nhắc đến cờ của triều đình, duy nhất có câu chuyện về lá cờ thêu 6 chữ vàng “Phá cường địch báo hoàng ân” của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản trong cuộc chiến chống quân Nguyên lần 2. Sang đến thời Hồ, đời Vua Hồ Hán Thương, sử viết nhà vua tổ chức lễ tế Giao lần đầu tiên, trước khi xe vua ra đàn tế, có nghi lễ quân lính cầm cờ tinh (tức cờ vẽ các chòm sao trên trời, như các triều đại Trung Quốc là lấy 28 chòm sao) để dẫn đường.

Sang đến thời hậu Lê, theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, năm 1428, khi Vua Lê Thái Tổ vừa lên ngôi, đặt niên hiệu là năm Thuận Thiên thứ nhất, đã “định các phẩm vật của các quân, cờ, xí, nghi trượng, chiến khí và thuyền ghe”. Đây cũng là các thứ cờ của hiệu của quân đội, được phân định rõ ràng: “Trung đội thì cờ vàng, thượng đội thì cờ đỏ, hạ đội thì cờ trắng. Mỗi vệ chủ tướng một lá cờ to, mỗi quân một lá cờ lỡ, cờ đội 10 lá, cờ nhỏ 40 lá”.

Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), Vua Lê Thánh Tông thân hành cầm quân vào đánh Chiêm Thành, sử viết: “Vua đem hơn 1.000 chiếc thuyền và hơn 70 vạn quân tinh nhuệ tiến ra biển, kéo lá cờ "thiên tử", vừa đánh trống vừa hò reo tiến thẳng về đằng trước mặt”. Có lẽ, cờ hiệu của Vua Lê Thánh Tông có thêu 2 chữ “Thiên tử” để quan quân biết thuyền đó vua ngồi chăng?

Mùa hạ năm ấy, Vua Lê Thánh Tông chiến thắng trở về, trên thuyền chở thủ cấp vua Chiêm là Trà Toàn có dựng một lá cờ trắng ở đầu thuyền, đề dòng chữ Hán nghĩa rằng: "Thủ cấp của tên ác nghịch đầu sỏ ở Chiêm Thành là Trà Toàn”. Khi về cung điện, dâng tù binh ở Thái miếu, bầy tôi dâng biểu chúc mừng.

Cuối thời Lê trung hưng, đời Vua Lê Dụ Tông, tháng 2 năm Bảo Thái thứ 7 (1724), “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” mới chép về nghi lễ tế cờ đầu tiên cùng lễ duyệt binh trọng thể. Nhưng, đây là lễ tế “Thần kỳ đạo”, vị thần tượng trưng cho lá cờ súy trong quân đội. Hôm đó, chúa Trịnh thống suất quan quân các doanh, trang bị đầy đủ nhung phục và khí giới, đặt đàn tràng cáo tế ở lầu Ngũ Long, chiểu theo phương hướng, mở cờ, bắn súng, làm chấn động dung nghi quân lính, gọi là tế cờ.

Tuy không rõ cờ chính thức thời Lê trung hưng màu sắc thế nào, nhưng bộ sử “Cương mục” ghi một câu chuyện về màu cờ của quân phiến loạn khá thú vị. Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1743) đời Vua Lê Hiển Tông, Nguyễn Diên tập hợp đồng đảng, cướp bóc ở vùng Sơn Tây. Đốc lãnh Sơn Tây là Lê Lệ và hiệp đồng Tuyên Quang là Nguyễn Quai được cử đi đánh. Quân của Diên dùng cờ đen, đội nón nan. Nguyễn Quai bèn tuyển quân lính nhanh nhẹn, mang cờ đen, đội nón nan giống như quân trang của Diên, rồi sai bọn này dùng thuyền đi trước, khiến quân Diên tưởng quân nhà nên không phòng bị. Khi quân của Quai thình lình đến đánh, Diên hoang mang sợ hãi bỏ chạy, thua to và bị bắt.

Những năm cuối thời vua Lê chúa Trịnh, khi quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ ra Bắc năm 1786, ở trận chiến ngoài kinh thành Thăng Long, chúa Trịnh Khải đã đích thân cưỡi voi cầm cờ xua quân ra đánh, nhưng sức không cản được quân Tây Sơn. Trịnh Khải thua, quay voi trở về thành, đến cửa Tuyên Võ, trông thấy ngoài phủ đã cắm hàng loạt cờ của quân Tây Sơn, bèn dẫn hơn trăm tượng binh chạy trốn lên Sơn Tây, để rồi hôm sau bị bắt sống. Đời sau vẫn mô tả màu cờ của quân Tây Sơn là màu đỏ, nhưng sử nhà Nguyễn thì không chép rõ.

Ở Đàng Trong, từ năm 1700, chúa Nguyễn Phúc Chu đã quy định sắc cờ cho các thuyền vận tải, thuyền các hạt chở thuế, mỗi hạt phải có sắc cờ riêng: Thăng Hoa thì cờ vàng, Điện Bàn cờ xanh, Quảng Ngãi cờ đỏ, Quy Ninh cờ trên đỏ dưới trắng, Phú Yên cờ trên trắng dưới đen; còn Bình Khang, Diên Ninh, Bình Thuận, Gia Định thì cờ trên xanh dưới đỏ, để cho dễ nhận.

Trong quân đội của chúa Nguyễn Ánh thì cờ xí cũng là vũ khí. Năm 1799, chúa từng dụ các tướng cách nghi binh: “Đêm thì đốt lửa thúc trống, ngày thì cờ xí cho nhiều, giả làm như sắp sửa tiến công, giặc đến thì giữ chỗ hiểm mà đặt quân phục, giặc đi thì ta đuổi đánh, khiến cho nó mệt mỏi thì ta cũng dễ thành công”.

Sau khi Vua Gia Long lên ngôi, mãi đến đầu năm Gia Long thứ 13 (1814), triều Nguyễn mới ban hành quy chế về “lỗ bộ đại giá” (các đồ nghi lễ khi đón, rước vua), trong đó ngoài kiệu, lọng, tán, quạt, thì các loại cờ cũng rất nhiều: cờ Vũ bảo chàng 20 cái, cờ Tín phan 4 cái, cờ Giáng dẫn phan 4 cái, cờ Báo vĩ phan 4 cái, cờ Cáo chỉ phan 4 cái, cờ Truyền giáo phan 4 cái, cờ Hoàng my 8 cái, cờ thêu rồng vàng phượng vàng mỗi thứ 2 cái, cờ mặt trời mặt trăng mỗi thứ 1 cái, cờ Bắc Đẩu 1 cái, cờ Nhị thập bát tú mỗi thứ 1 cái, cờ gió, mây, mưa, sấm mỗi thứ 1 cái, cờ Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ mỗi thứ 1 cái, cờ ngũ hành mỗi thứ 1 cái, cờ xuất cảnh, nhập tất mỗi thứ 1 cái, cờ Túc tĩnh 2 cái, cờ cửa 8 cái, cờ đi theo chiêng trống mỗi thứ 1 cái, cờ ngũ sắc thêu rồng 24 cái, cờ ngọc tiết 10 cái, cờ mao tiết 30 cái. Danh sách các đồ nghi trượng này gần như giữ nguyên trong triều Nguyễn.

Còn trong nghi lễ tôn phong thân mẫu Vua Minh Mạng làm hoàng thái hậu, Bộ Lễ chế lỗ bộ Từ giá cũng có 4 cờ long phượng, 2 cờ thanh đạo.

Về cờ chính thức của triều Nguyễn treo trên đỉnh Kỳ đài ở kinh thành Huế thì những ghi chép về tang lễ Vua Gia Long năm 1820 trong bộ “Đại Nam thực lục” chỉ rõ: Ngày thường trên kỳ đài treo cờ vàng, khi có quốc tang thì treo cờ trắng. Ngày đưa tang vua được mô tả như sau: “Rước long giá (kiệu rồng rước quan tài tiên đế) ra ngoài hoàng thành, vua đi bộ theo. Trên kỳ đài treo cờ trắng, phóng 9 tiếng ống lệnh”. Sau khi an táng Vua Gia Long ở lăng Thiên Thọ xong, Vua Minh Mạng “Thân hành bưng thần chủ (bài vị vua cha) lên xe, theo đường thuyền đến bến kinh thành, lại bưng lên xe, vua theo ở trong xe, thân hành bưng đến cửa Tả Đoan. Trên kỳ đài treo cờ vàng, phóng 9 tiếng ống lệnh. Đến cửa điện Hoàng Nhân, xuống xe, bưng thần chủ để ở chính giữa điện, làm lễ an vị”.

Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), vua Minh Mạng ngự giá ra Bắc Thành. Nhà vua từng dụ rằng: “Cờ thúy hoa mới đến hạt, cụ già, con đỏ, đón kiệu vui mừng”. Cờ “thúy hoa” là loại cờ dành riêng khi vua đi tuần hành, trang sức bằng lông xanh. Sau khi hoàn thành nghi lễ bang giao với sứ thần nhà Thanh, khi hồi loan, Vua Minh Mạng sai trung sứ đem cờ Hồi loan (cờ viết hai chữ “Hồi loan”) truyền tin dọc đường vào Nam cho tới kinh sư.

Tháng 3 năm Minh Mạng thứ 2, triều Nguyễn cũng bắt đầu chế cờ bài Vương mệnh để mỗi khi xa giá đi ra ngoài thì cấp cờ này cho quan thủ thành để làm hiệu lệnh. Vua Minh Mạng cũng cho ban hành nhiều loại cờ nhỏ khác làm cờ hiệu khi di chuyển, hành quân. Luật hành quân ban hành đầu thời Vua Minh Mạng quy định: “Ban đêm, trung sứ có việc quan trọng truyền báo, nếu xét có cờ bài mệnh vua, ấn vua hay cờ rồng thì lập tức cho đi”. Quy định ngựa trạm ban hành năm Minh Mạng thứ 10 (1829), mỗi trạm được cấp 3 con ngựa và 2 lá cờ đề chữ “Mã thượng phi đệ” (đệ theo ngựa phi), 1 lá cờ đề chữ “Mã thượng trì đệ” (đệ theo ngựa chạy) để tùy theo sự việc khẩn cấp hay không mà sử dụng.

Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều Nguyễn định lệ cấp binh khí cho các vệ cơ đội, từ Quảng Nam về Nam đến Bình Thuận, và từ Quảng Trị về Bắc đến Ninh Bình. Mỗi vệ, cơ đều được cấp cho một cây cờ vuông to lớn đề hiệu vệ cơ (mặt cờ viết tên hiệu vệ cơ nào).

Năm Minh Mạng thứ 10, triều Nguyễn cũng bắt đầu quy định thể lệ cúng Mang thần vào mờ sáng ngày Lập Xuân hằng năm, theo đó các quan đều phải mặc áo xanh, dựng cờ xanh, đem con trâu và người cày bằng đất đưa ra ngoài cửa thành để chuẩn bị cúng tế. Sau khi làm lễ xong, viên phủ Doãn Thừa Thiên về phủ thự, mang trâu đất và Mang thần ra đánh 3 roi để tỏ ý khuyên cày.

Về nghi lễ rước vua đi cày ruộng tịch điền của triều Nguyễn, ban hành năm này, cũng có hàng loạt loại cờ làm nghi trượng. Bên cạnh các loại tán, phan, về cờ có các loại: cờ rồng 2 cái, cờ phượng 2 cái, cờ cảnh 1 cái, cờ tất 1 cái, cờ tả đạo 1 cái, cờ ngũ sắc 10 cái.

Lê Tiên Long

Nguồn ANTG: https://antgct.cand.com.vn/khoa-hoc-van-minh/sac-co-thoi-xua-i804944/