Người 'giữ lửa' ký ức

Ngày 8/4/2026, tin nhà thơ Nguyễn Đức Mậu qua đời khiến không ít bạn bè, đồng nghiệp ngỡ ngàng, sửng sốt.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Bởi vừa mới hôm qua, có người còn nói chuyện với ông ở bến chờ xe bus, hay thoáng gặp bóng dáng hao gầy của ông đi qua cổng “Nhà số 4”- trụ sở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi ông từng nhiều năm gắn bó. Vậy mà hôm nay ông đã chọn cho mình cách ra đi lặng lẽ trên một chuyến xe bus thường nhật, để rong ruổi về miền mây trắng...

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948 tại xã Nam Điền, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình). Ông bước vào tuổi trưởng thành đúng vào thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Năm 1966, sau khi học xong phổ thông, chàng trai Nguyễn Đức Mậu tạm xa gia đình, xung phong nhập ngũ và trở thành chiến sĩ của Sư đoàn 312.

Những năm tháng ấy đã đưa ông đi qua nhiều chiến trường khốc liệt: từ Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng (Lào) đến Quảng Trị, Khe Sanh, Tây Nguyên, rồi miền Đông, miền Tây Nam Bộ. Trong môi trường quân ngũ đầy thử thách, giữa khói lửa chiến tranh và gian nan đời lính, tận mắt chứng kiến những hy sinh, mất mát của đồng đội và cả những khoảng lặng hiếm hoi giữa mưa bom bão đạn, tâm hồn thi sĩ trong ông đã được khơi nguồn.

Những năm đầu cầm bút, chùm thơ Ghi ở chiến trường, Đôi mắt, Đất... của người lính Nguyễn Đức Mậu gửi từ mặt trận để tham dự cuộc thi Thơ của báo Văn nghệ (1972-1973) đã đoạt giải nhất, đánh dấu sự xuất hiện của một giọng thơ mới, giọng thơ của “người ra trận”. Thơ ông mang một sắc thái riêng, chân thực, mộc mạc, viết bằng trải nghiệm sống, bằng ký ức chiến tranh không thể xóa nhòa. Những câu thơ đọc lên như lời tâm tình với chính đồng đội mình.

Ông tự họa chân dung mình và cũng là chân dung các nhà văn mặc áo lính: “Lớp nhà thơ, nhà văn một thời đi kháng chiến. Trang bản thảo nằm trong ba lô, những nhân vật, câu thơ là mẫu quặng. Căn hầm thay phòng viết, ngọn đèn thắp bằng nhựa cây cháy sáng mặt trời. Những nhà thơ, nhà văn ăn khẩu phần lính trận, ngủ gối đầu rễ cây, bao gạo. Đường kháng chiến hiểm nghèo đèo dốc. Đường văn chương bạc tóc đêm dài” (Hà Nội, chiều nay…).

Hòa bình lập lại, non sông liền một dải, người lính Nguyễn Đức Mậu có cơ hội đi tiếp con đường văn chương bằng việc theo học Trường Viết văn Nguyễn Du khóa I (khai giảng tháng 11/1979), nơi quy tụ nhiều cây bút trưởng thành từ chiến tranh như Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, Trung Trung Đỉnh,...

Hoàn thành khóa học, ông về công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Từ đây, ông bước vào một chặng đường mới: vừa sáng tác, vừa làm công tác biên tập, đào tạo và nâng đỡ các thế hệ nhà thơ trẻ. Ông từng giữ cương vị Trưởng ban Thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, sau này là Chủ tịch Hội đồng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Có thời gian, ông được báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) mời “gác cổng” cho trang thơ của báo. Những đồng nghiệp ở báo Văn Nghệ ngày ấy vẫn ấn tượng với chiếc cặp da sờn cũ được ông trân trọng, giữ gìn như báu vật, lúc nào cũng chứa hàng tập bản thảo thơ dày cộp mà ông đang nghiền ngẫm, biên tập.

Trong suốt cuộc đời mình, hầu hết các sáng tác của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đều viết về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính, như chính ông tâm sự: “Đó mãi mãi là trách nhiệm của thế hệ cầm súng, cầm bút chúng tôi”.

Những tác phẩm tiêu biểu của ông như Trường ca Sư đoàn, Nấm mộ và cây trầm, Màu hoa đỏ (sau này được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc thành bài hát cùng tên), Cánh rừng nhiều đom đóm bay, Bầy chim lá màu vàng,... đã trở thành những dấu mốc quan trọng trong hành trình sáng tác của ông.

Người đọc bắt gặp trong thơ ông một thế giới nghệ thuật vừa giàu chất sử thi, vừa thấm đẫm chất trữ tình và chất chứa những nỗi niềm day dứt: “Nếu tất cả trở về đông đủ/ Sư đoàn tôi sẽ thành mấy sư đoàn/ Câu thơ ấy năm chiến tranh tôi viết/ Trước những hàng bia mộ dọc thời gian…” (Gửi Sư đoàn cũ).

Đánh giá về đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà, nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, chính trải nghiệm chiến trường đã tạo nên chiều sâu và sức nặng cho thơ Nguyễn Đức Mậu, khiến ông trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Mỹ.

Nhà thơ Trần Anh Thái, người rất gắn bó với nhà thơ Nguyễn Đức Mậu không khỏi bàng hoàng trước sự ra đi đột ngột của ông. Nhà thơ Trần Anh Thái chia sẻ: “Ông là một trong những nhà thơ xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Có thể quả quyết, trong thế hệ các nhà thơ trưởng thành vào thời kỳ chống Mỹ, Nguyễn Đức Mậu là người viết về người lính nhiều nhất, tập trung nhất, liên tục và thủy chung nhất. Ông là người lính có vốn sống dày dặn và một niềm tin rắn chắc vào con đường mà ông và đồng đội ông đã chọn, đã chiến đấu hy sinh. Cái đẹp trong thơ ông là cái đẹp của tình yêu thương con người, đồng đội, đồng bào; là niềm tin vào kháng chiến và dân tộc. Và tôi cảm nhận rằng, nếu không dầm mình vào cuộc chiến tranh khốc liệt, không khoác lên mình bộ quân phục màu xanh, sẽ không có một nhà thơ Nguyễn Đức Mậu nổi tiếng hôm nay…”.

Điều đáng nói là dù trải qua nhiều cương vị, được coi như “cây đa, cây đề” trong thế hệ các nhà thơ chống Mỹ, song nhà thơ Nguyễn Đức Mậu vẫn giữ nguyên một phong thái bình dị, chân thành, mộc mạc. Nhà thơ Nguyễn Bình Phương, Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội chia sẻ: “ông ít tuyên ngôn, sống lặng lẽ khiêm nhường, dường như không muốn làm phiền đến ai”. Sự lặng lẽ ấy dường như là một cách sống, để ông vẫn giữ được một không gian sáng tạo cho riêng mình.

Những ai từng có cơ hội gặp gỡ hoặc làm việc cùng ông đều ấn tượng về một con người luôn sống chân thành và độ lượng. Ông sẵn sàng dành thời gian góp ý, hướng dẫn cho những người trẻ mới vào nghề, không hề phân biệt ngôi thứ, khoảng cách. Với tư cách là biên tập, ông hết sức nghiêm cẩn trong từng câu chữ, không nể nang, không chấp nhận sự dễ dãi. Trong sinh hoạt thường ngày, ông hiền lành, đôi khi có phần vụng về, nhút nhát, nhưng luôn chân thật. Ông chỉ trở nên náo nhiệt khi bình luận bóng đá hay chơi bóng bàn. Hằng ngày, ông vẫn giữ thói quen rảo bộ dọc phố Lý Nam Đế, niềm nở bắt tay đồng nghiệp với nụ cười hiền hậu. Có những ngày, ông một mình lên xe bus, đi rong ruổi khắp Hà Nội chỉ để ngắm nhìn thành phố không ngừng đổi thay bằng tâm hồn thi sĩ. Nhà văn Sương Nguyệt Minh trìu mến gọi ông là “người hiền của Nhà số 4”.

Sự ra đi của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, dẫu biết là quy luật của đời người, vẫn khiến nhiều người cảm thấy hụt hẫng, tiếc nuối. Ông ghi dấu trong đời sống văn học như “ký ức sống” của một thời đại, khi mỗi câu thơ đều mang theo hơi thở của lịch sử. Sự tâm huyết, lao động bền bỉ của ông với thơ ca đã được ghi nhận xứng đáng: năm 2001 ông đã vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật và Giải thưởng Văn học ASEAN. Ngoài ra ông còn ba lần đoạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam (1994, 1996, 1999), và ba lần đoạt giải thưởng của Bộ Quốc phòng về văn học nghệ thuật (1989, 1994, 2004). Song có lẽ, phần thưởng lớn nhất vẫn là sự yêu mến của nhiều thế hệ bạn đọc với “nhà thơ-người lính” Nguyễn Đức Mậu.

Hà Nội ngày chớm hạ, những con phố xao xác lá vàng rơi, nay bỗng hao khuyết bước chân của một người vừa dạo bước về miền xa thẳm. Nhưng những câu thơ của ông vẫn còn ở lại, nhắc nhớ chúng ta về một “di sản nghệ thuật” mà ông và thế hệ mình đã gây dựng nên, cần tiếp tục được trân trọng, gìn giữ.

PHONG ĐIỆP

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/nguoi-giu-lua-ky-uc-post954767.html