Người bán ký ức

1. Những ngày ấy, đã xa rồi…

Tranh minh họa: Lý Long

Tranh minh họa: Lý Long

Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh người đàn ông loay hoay trong một cửa tiệm nhỏ, dưới mái hiên đã hong lên màu khói chỉ vừa đủ để bày biện hơn ba chiếc bàn tre thấp, vài chiếc ghế cóc. Từ trong tiệm, một lọn khói trắng nhỏ xinh, thơm dịu nhẹ, thường vẩn lên trên ngọn cây bằng lăng phía trước mỗi độ chiều buông. Lọn khói mà tôi gọi là kỳ diệu, bởi nó có sức níu chân tôi lại trong một buổi chiều tan tầm vội vã và ồn ã tiếng còi xe. Tôi nhìn vào trong tiệm, người đàn ông đứng nghiêng nghiêng sau màn khói mỏng, mái tóc bạc trắng và đôi mắt của người từng trải, như nhìn xuyên qua những năm tháng của cuộc đời, buồn vui, khóc cười, hạnh phúc lẫn mất mát...

Nắng chiều xuyên qua tán cây bằng lăng, rọi xuống chỗ tôi ngồi. Ngọn nắng mùa xuân trong trẻo. Vài sợi khói trắng bay vô định, nhởn nhơ trước mắt tôi. Tôi đánh mắt theo hướng nắng, bất chợt phát hiện tấm biển hiệu đã cũ. Một tấm bạt đã nhòe màu vì khói bụi, nổi lên dòng chữ vốn là tên quán cơm mà có lẽ ẩn đằng sau là cả một tấm lòng tha thiết với đất cũ người xưa của người sinh thành nên nó giữa lòng thành phố rộn rịp. Tiệm cơm Mùi Khói!

2. Tôi gọi chủ tiệm là ông Tư.

Hơn một năm nay, tiệm cơm ông Tư không chỉ là chỗ tôi ghé qua ăn những món quê không có thực đơn cố định, mỗi tuần chừng hai, ba lần. Nó còn là điểm dừng chân của tôi mỗi lúc tôi thấy mệt nhoài khi bị cuốn vào vòng xoáy công việc. Hiên nói với tôi, khi nào mệt thì tìm một chốn nào đó để dừng chân, hoặc về quê. Vào những lúc công việc “réo tận giường”, du lịch - với tôi là điều xa xỉ. Về quê - tôi thấy chạnh lòng khi nghĩ đến. Bởi, lâu lắm rồi, có lẽ từ khi tôi đặt chân lên thành phố, “về quê” trở thành một khái niệm xa lạ đối với tôi. Không phải vì tôi không có quê để về. Nói đúng ra, ai mà chẳng có quê hương, có gốc rễ, cội nguồn? Nhưng bây giờ, chốn ấy chẳng còn ai để tôi về. Tôi tự thấy mình là kẻ tha hương, lạc loài giữa thành phố. Hiên an ủi tôi hết lời. Hiên cũng thường đưa tôi về quê Hiên chơi. Quê Hiên nép mình bên một eo biển miền Trung đẹp và thơ mộng. Mùa hè, biển xanh ngút ngát. Tôi tự nhận quê Hiên làm quê hương thứ hai của mình. Còn thành phố? - Hiên hỏi tôi bất chợt. Ừ, chắc là chốn dừng chân thời tuổi trẻ, phải không Hiên?...

Ông Tư hay kể cho tôi nghe chuyện ở quê. Tôi khâm phục ông. Đôi lần, tôi nghĩ, con người ấy đang nắm giữ ký ức của bao người, để rồi bao dung khơi gợi, nhắc nhớ… để tôi biết rằng mình không hề là kẻ lênh đênh, lưu lạc nơi đất khách. Mình vẫn còn nơi để về, còn chỗ để trút những muộn phiền và nạp lại những năng lượng tích cực cho riêng mình, để sống tiếp một cuộc đời đáng sống.

3. Tiệm cơm Mùi Khói bán đủ món quê. Mấy lần tôi đưa Hiên đến, chủ yếu là gặp ông Tư - người mà qua lời kể của tôi với Hiên, đã “nắm giữ phần ký ức trong trẻo nhất” của tôi và bán lại cho tôi bằng giá cả cực kỳ rẻ. Tôi gọi canh rau tập tàng, ơ cá kho tiêu, hiếm khi có bông súng, ông Tư phải đạp xe ra tận chợ tự phát ven con sông trong thành phố mua lấy vài lọn chấm cá kho hoặc mắm kho. Tôi biết Hiên không quen lắm những món ăn của miền Nam, cốt để tôi vui. Sau này, tôi không thường rủ Hiên đến nữa. Hiên - có lẽ - cũng có riêng cho mình một “người nắm giữ phần ký ức trong trẻo nhất” trong thành phố mấy triệu dân này.

Tiệm cơm Mùi Khói không thuê phục vụ. Một mình ông Tư xoay xở, từ nấu nướng đến bưng bê. Bởi thế, khách vào tiệm phải kiên nhẫn đợi. Ai không hiểu thường quay quắt bỏ đi hoặc trách tiệm cơm phục vụ không tốt. Ông Tư cười, tặc lưỡi, không chấp nhất. Hình như ông Tư đoán biết ý tôi, khác với những khách hàng khác tạt vào quán, ông Tư thường không hỏi tôi ăn gì, mà tự ông “thiết kế” món ăn cho tôi. Khi thì ông bưng ra cho tôi tô canh chua cá lóc có bông súng, bông điên điển vàng; khi thì ơ cá kho tiêu, cá kho tộ, mắm kho thơm lựng; khi chỉ là tô canh rau tập tàng... mà ngon đến lạ thường. Như một chiều mưa nọ, tôi rẽ vào tiệm cơm Mùi Khói, ngoài đường, người phố đang nấp mình sau tấm áo, vội vã với những câu chuyện của riêng mình. Tôi thong dong ngồi ngắm phố qua màn mưa đã dần mỏng, ngắm vạt khói thơm trong tiệm ông Tư dịu dàng bay ra ngoài đường rồi tan vào không gian. Tự dưng tôi thấy mắt mình cay cay, không phải vì khói mà bởi tôi nhớ xiết bao những năm tháng mình còn ở quê. Hồi ấy, má tôi còn khỏe lắm, tôi thì còn nhỏ, mỗi độ sa mưa lại cun cút bên má trong gian bếp, ôm mèo mướp trong lòng. Ngoài hiên trời lắc rắc mưa, xa xa là cánh đồng đang chìm trong màn mưa trắng xóa.

Trên bếp, ngọn lửa chưa bao giờ tắt hẳn đang nổ lép bép. Má tôi đang rắc tiêu thơm vào ơ cá sặc non kho ráo nước, hái thêm ít rau sau nhà luộc vừa chín. Mùa về, má bắt được cá linh non. Tô canh chua cá linh có bông so đũa trắng má móc được từ cành so đũa lúc lỉu ngoài bờ ruộng. Bữa cơm nhà mấy món đơn sơ, trong gian bếp ấm áp giữa một chiều mưa lạnh. Mùa ấy, đã xa rồi! Tôi gọi đó là mùa ký ức - mùa mà tôi ước ao được đắm mình, được tắm mãi trong cơn mưa hôm nào. Bây giờ má tôi không còn nấu canh chua cá linh non hay cá rô kho tiêu hành thơm lựng cho tôi nữa. Má ngủ rồi - một giấc ngủ mãi mãi bình yên dưới ba tấc đất. Má ngủ yên trong lòng đất quê hương, an lành, dung dị. Những ngày mưa, tôi thường nhớ da diết những mùa xưa. Từ tầng tám khu chung cư phía đông thành phố nhìn ra xa xa, thấy cả phố chìm trong biển mưa, tôi bỗng thấy mình cô độc quá. Tôi đâu biết rằng, ở tiệm cơm Mùi Khói, ông Tư cũng mang một nỗi niềm như tôi đang mang. Và bao nhiêu người mà tôi chưa quen biết, hoặc vĩnh viễn không quen mặt trong thành phố này, cũng đang nhớ đến xót xa một mùa xưa không bao giờ trở lại...

Ông Tư đon đả bưng ra cho tôi mẻ cá cơm kho tiêu và bát canh rau tập tàng, cười hiền. Tôi hít một hơi thật sâu cái hương vị của ký ức ấy. Trong chiều mưa phố, hương vị đó bỗng làm tim tôi ấm lên. Từ trong tiệm, ông Tư nói vọng ra:

- Kéo ghé ngồi sát vô trong này, coi chừng ướt.

Tôi “dạ” nhẹ hều, nhưng vẫn ngồi đó vì mưa đã tạnh dần và vài ngọn đèn đã bắt đầu thắp lên trong thành phố.

Tôi khe khẽ hỏi ông Tư, nửa thật, nửa đùa:

- Ông tư bán rẻ vậy, biết chừng nào mới giàu ha?!

Ông Tư cười, giọng trầm khàn:

- Bán vậy chứ mong gì giàu sang đâu, con gái ơi! Bán ký ức thôi. Tìm được mấy quán cơm vị quê ở cái thành phố này. Mà đúng vị quê, người quê, mà tình cũng là tình quê nghen, không phải “quê” theo kiểu nhà hàng kinh doanh.

Tôi lặng người đi vì chữ “bán ký ức” trong câu nói của ông. Ông Tư thâm trầm và sâu sắc, như cái cách mà ông đặt tên cho tiệm cơm nhỏ của mình: Tiệm cơm Mùi Khói. Ai cũng có một mùi khói của riêng mình. Quê hương trong mỗi người không chỉ là một địa danh trên bản đồ, nó còn là mùi vị, là ký ức và là tình người mà mỗi người mang theo trong tim. Dù đi đến đâu, chỉ cần còn nhớ “mùi khói bếp”, người ta sẽ luôn tìm được đường về...

4. Mưa tạnh, tôi rời quán, lòng đầy suy nghĩ.

Tôi thầm cảm ơn ông Tư - “người nắm giữ phần ký ức trong trẻo nhất” của tôi, người già đơn độc giữa phố đã tự nhắc nhớ cội nguồn của mình, tự mình làm sống dậy ký ức về quê hương, về những người đã khuất bằng tiệm cơm bình dân mà chứa chan tình giữa lòng thành phố đông đúc. Tôi nhớ, có lần ông Tư hỏi tôi:

- Con gái, con có thường về quê không con?

Tim tôi lạc đi một nhịp. Rồi tôi khe khẽ:

- Dạ không! Lâu lắm, con không về lại quê mình.

Ông Tư ngạc nhiên:

- Sao vậy? Phải về chứ con. Không được bỏ quê, nghe con.

Tôi buồn lòng nói:

- Ở quê giờ chẳng còn ai cả, ông Tư.

Ông nhìn tôi một lúc lâu, tư lự. Hình như những ký ức quê đang sống dậy trong tim ông. Ông đang sống về những năm tháng tuổi trẻ, ấm êm, hạnh phúc và đáng sống nhất đời mình.

Trong tiệm cơm vắng khách nhưng mùi khói vẫn còn len lỏi vào sâu trong từng ngõ ngách tâm hồn tôi, ông Tư ngồi đối diện với tôi, đôi mắt như đang nhìn lại từng đoạn đời đã qua, từng vui buồn, được mất. Ông nói:

- Con gái à, dù ở quê không còn ai, nhưng quê hương thì vẫn còn đó. Chỉ có con người bỏ quê hương chứ quê hương không bao giờ quay lưng lại với con người, không bao giờ...

Ông Tư nói đến đó, nước mắt tôi bỗng ứa ra, lăn dài trên má...

5. “Về đi, Giang. Về nơi chôn nhau cắt rốn...”, Hiên cũng nói với tôi như thế!

Ừ, thì về. Vì quê hương luôn hằng hữu trong tim mỗi người.

Tôi thu xếp công việc ổn thỏa, đặt vé xe. Về xóm Lục Bình. Xóm nằm xa tít.

Khi xe còn đi trong nội ô thành phố, ngang qua tiệm cơm Mùi Khói, tôi nhìn qua ô cửa, bàng hoàng. Tiệm cơm đóng cửa, phía trước treo tấm bìa cạc-tông, đề mấy chữ mà tôi thấy rõ dù khoảng cách khá xa: Tạm nghỉ - Về quê. Tôi mỉm cười, mà tự dưng thấy hạnh phúc ngập tràn. Tôi biết, mỗi nhịp tim, hơi thở của ông Tư đều có bóng dáng của quê nhà. Và tôi cũng thế!

Hoàng Khánh Duy .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/nguoi-ban-ky-uc-426906.html