Lượng hóa giá trị của dự án hạ tầng qua kiểm toán

Trong nhiều năm qua, hoạt động kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông đã đóng góp thiết thực trên cả ba phương diện: phát hiện, kiến nghị xử lý tài chính; phát hiện bất cập về cơ chế, chính sách để kiến nghị hoàn thiện và góp phần thúc đẩy kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư công. Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước (KTNN) chuyên ngành IV Vũ Duy Bắc khẳng định điều này trong cuộc trao đổi với Báo Kiểm toán.

Hạ tầng giao thông được kết nối đồng bộ, hiện đại góp phần quan trọng giúp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng và đất nước. Ảnh: Huy Vũ

Hạ tầng giao thông được kết nối đồng bộ, hiện đại góp phần quan trọng giúp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng và đất nước. Ảnh: Huy Vũ

Thưa ông, Việt Nam đang bước vào giai đoạn đầu tư kết cấu hạ tầng quy mô lớn chưa từng có, với khoảng 8,22 triệu tỷ đồng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030. Từ góc độ kiểm toán, theo ông, cần dựa trên những tiêu chí nào để đánh giá đầy đủ giá trị kinh tế - xã hội mà một dự án hạ tầng mang lại?

Đây là câu hỏi cốt lõi mà toàn Ngành, trong đó có KTNN chuyên ngành IV đang tập trung nghiên cứu và thể chế hóa thành công cụ kiểm toán cụ thể. Theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Kiểm toán nhà nước, việc đánh giá hiệu quả một dự án hạ tầng không thể chỉ dựa vào một vài chỉ tiêu tài chính đơn lẻ, mà cần một khung tiêu chí toàn diện gồm 4 nhóm:

Tính kinh tế: đánh giá việc huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực đầu tư có tiết kiệm, hợp lý hay không, thể hiện qua sự cần thiết đầu tư, quy mô, phương án đầu tư, tổng mức đầu tư, công tác lựa chọn nhà thầu và quản lý chi phí đầu tư;

Tính hiệu quả: mối quan hệ giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra, thể hiện qua tiến độ thực hiện dự án, tiến độ giải ngân vốn, chất lượng công trình và công tác quản lý, tổ chức thực hiện dự án;

Tính hiệu lực: mức độ đạt được mục tiêu đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thể hiện qua mức độ đáp ứng nhu cầu sử dụng thực tế, mức độ phát huy công suất thiết kế, hiệu quả khai thác, vận hành và hiệu quả kinh tế - xã hội trực tiếp, gián tiếp mà dự án mang lại;

Tính bền vững và phòng, chống lãng phí: khả năng duy trì, phát huy hiệu quả đầu tư trong suốt vòng đời khai thác; nhận diện các biểu hiện tài sản công nhàn rỗi, công trình khai thác dưới công suất, đầu tư không đồng bộ.

Điểm mấu chốt là các tiêu chí nêu trên phải được lượng hóa tối đa bằng số liệu, tỷ lệ phần trăm, thời gian, chi phí, mức độ hoàn thành chỉ tiêu và có khả năng so sánh được - so sánh giữa kế hoạch với thực tế thực hiện, giữa dự toán với quyết toán, giữa trước và sau đầu tư, hoặc giữa dự án được kiểm toán với các dự án có tính chất tương tự. Chỉ khi làm được như vậy, kết luận, kiến nghị kiểm toán mới có sức thuyết phục và giá trị thực tiễn cao đối với công tác quản lý, điều hành.

Qua thực tiễn kiểm toán những năm qua, ông đánh giá như thế nào về những đóng góp của KTNN trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư, sử dụng nguồn lực đối với các dự án hạ tầng?

Trong nhiều năm qua, hoạt động kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông đã đóng góp thiết thực trên cả ba phương diện: phát hiện, kiến nghị xử lý tài chính; phát hiện bất cập về cơ chế, chính sách để kiến nghị hoàn thiện và góp phần thúc đẩy kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư công.

Riêng năm 2025, KTNN chuyên ngành IV đã kiến nghị xử lý tài chính hơn 1.032 tỷ đồng; trong đó thu hồi, giảm thanh toán phần vốn ngân sách nhà nước khoảng 51,76 tỷ đồng, tăng thu - giảm chi cho nhà đầu tư khoảng 44,6 tỷ đồng, cùng các khoản kiến nghị xử lý khác đối với phần vốn ngân sách nhà nước và phần vốn của nhà đầu tư. Đây là kết quả cụ thể, cho thấy vai trò của kiểm toán không chỉ dừng ở việc “hậu kiểm” số liệu tài chính mà đã từng bước gắn với đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư.

Ngoài ra, những kiến nghị về điều chỉnh thiết kế, biện pháp thi công đã giúp chủ đầu tư tiết kiệm chi phí đầu tư (chẳng hạn kiến nghị điều chỉnh thay thế lớp đệm cát gia cố xi măng trên đỉnh cọc xi măng đất bằng giải pháp sử dụng vải địa kỹ thuật gia cường giúp giảm chi phí hàng trăm tỷ đồng).

Việc đánh giá hiệu quả một dự án hạ tầng không thể chỉ dựa vào một vài chỉ tiêu tài chính đơn lẻ, mà cần một khung tiêu chí toàn diện. Ảnh: Tư liệu

Việc đánh giá hiệu quả một dự án hạ tầng không thể chỉ dựa vào một vài chỉ tiêu tài chính đơn lẻ, mà cần một khung tiêu chí toàn diện. Ảnh: Tư liệu

Bên cạnh giá trị tài chính, quan trọng hơn là những kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách được KTNN chuyên ngành IV tổng hợp, báo cáo Tổng Kiểm toán nhà nước để kiến nghị Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành xem xét sửa đổi, bổ sung.

Đây cũng là định hướng xuyên suốt của Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2030, trong đó xác định mục tiêu tăng cường kiểm toán hoạt động, kiểm toán chuyên đề đạt tỷ lệ khoảng 30 - 40% số cuộc kiểm toán hằng năm vào năm 2030, chú trọng phát hiện sơ hở trong cơ chế, chính sách để kiến nghị hoàn thiện, không ngừng nâng cao chất lượng các kết luận, kiến nghị kiểm toán.

Vừa qua, Tổng Kiểm toán nhà nước yêu cầu toàn Ngành xây dựng Bộ tiêu chí kiểm toán để đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án sau đầu tư. Ông kỳ vọng Bộ tiêu chí này sẽ góp phần thay đổi như thế nào về phương pháp và cách thức đánh giá hiệu quả dự án sau đầu tư?

Việc xây dựng Bộ tiêu chí kiểm toán đánh giá hiệu quả sau đầu tư được cụ thể hóa tại Hướng dẫn khung kiểm toán đánh giá hiệu quả dự án đầu tư đã hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng ban hành kèm theo Công văn số 859/KTNN-CĐ ngày 10/6/2026 của KTNN và Hướng dẫn tiêu chí kiểm toán đánh giá hiệu quả dự án đầu tư công trong lĩnh vực giao thông ban hành kèm theo Công văn số 1147/KTNN-CN IV ngày 24/7/2026. Theo tôi, Bộ tiêu chí sẽ tạo ra ba thay đổi căn bản về phương pháp kiểm toán:

Một là, chuyển từ kiểm toán tuân thủ, kiểm toán tài chính đơn thuần sang kết hợp chặt chẽ với kiểm toán hoạt động - không chỉ trả lời câu hỏi “chi tiêu có đúng quy định hay không” mà còn trả lời câu hỏi quan trọng hơn là “đồng vốn bỏ ra có mang lại hiệu quả tương xứng hay không”;

Hai là, chuẩn hóa phương pháp tiếp cận theo chuỗi kết quả đầu tư - từ nguồn lực đầu vào, kết quả đầu ra, đến các chỉ số khai thác, vận hành và tác động phát triển - thay vì đánh giá rời rạc từng khâu như trước đây; Đoàn kiểm toán được khuyến khích vận dụng đa dạng phương pháp: đối chiếu, so sánh; phân tích xu hướng, biến động; phân tích nguyên nhân; đánh giá trước và sau đầu tư và trong trường hợp cần thiết, các phương pháp phân tích chuyên sâu như phân tích chi phí - lợi ích, phân tích giá trị ròng trong suốt vòng đời công trình;

Ba là, thúc đẩy ứng dụng dữ liệu số và công nghệ trong thu thập bằng chứng kiểm toán - dữ liệu lớn, dữ liệu viễn thám, ảnh vệ tinh, mô hình thông tin công trình (BIM), các hệ thống giám sát, quan trắc tự động - nhằm tăng tính khách quan, giảm phụ thuộc vào hồ sơ, tài liệu do đơn vị được kiểm toán cung cấp.

Khi Bộ tiêu chí được vận dụng thống nhất, hiệu quả trong toàn Ngành, tôi cho rằng kết luận, kiến nghị kiểm toán sẽ không chỉ dừng ở việc phát hiện sai phạm, thất thoát, mà còn cung cấp luận cứ khoa học, đáng tin cậy để phục vụ công tác hoạch định chính sách đầu tư công cho các giai đoạn tiếp theo. Điều này phù hợp với định hướng đổi mới quản lý đầu tư công mà Nghị quyết số 27/2026/QH16 của Quốc hội về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 đã xác định, đó là việc phân bổ, quản lý và sử dụng vốn đầu tư công phải trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của từng chương trình, dự án, chứ không chỉ căn cứ vào tiến độ giải ngân đơn thuần.

Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành IV Vũ Duy Bắc. Ảnh: N.Lộc

Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành IV Vũ Duy Bắc. Ảnh: N.Lộc

Trên cơ sở yêu cầu của lãnh đạo KTNN và Bộ tiêu chí nói trên, KTNN lựa chọn 28 dự án kiểm toán đánh giá hiệu quả sau đầu tư, trong đó KTNN chuyên ngành IV được giao kiểm toán 2 dự án. 

Việc lựa chọn 2 dự án đưa vào chuyên đề đánh giá hiệu quả đầu tư căn cứ trên các tiêu chí: quy mô vốn đầu tư lớn, tính chất dự án quan trọng quốc gia hoặc trọng điểm ngành giao thông, có mức độ rủi ro và được dư luận xã hội quan tâm; đồng thời ưu tiên các dự án đã hoàn thành hoặc đã đưa vào khai thác, sử dụng được một thời gian nhất định, bảo đảm có đủ dữ liệu thực tế về khai thác, vận hành để đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội sau đầu tư theo đúng phạm vi áp dụng của Hướng dẫn ban hành.

Trên cơ sở kết quả, kinh nghiệm kiểm toán 2 dự án này, KTNN chuyên ngành IV sẽ đề xuất lãnh đạo KTNN đẩy mạnh công tác kiểm toán, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án đầu tư.

Gần đây, KTNN chuyên ngành IV đã liên tục tổ chức các lớp tập huấn về kiểm toán công trình giao thông đô thị, mời chuyên gia trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm. Việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn này xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn nào? 

Thực hiện Kế hoạch tổ chức đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm nghiệp vụ chuyên sâu về các dự án đầu tư xây dựng đã được Lãnh đạo KTNN phê duyệt, KTNN chuyên ngành IV đã và đang tổ chức 5 lớp tập huấn chuyên đề về công nghệ thi công công trình hầm, thiết kế - thi công đường sắt đô thị, dự án cảng hàng không - sân bay, công trình giao thông đường thủy và công trình đường bộ, với sự tham gia trao đổi, chia sẻ của chuyên gia đến từ các Ban Quản lý dự án, các Công ty tư vấn hàng đầu và Nhà đầu tư. Đối tượng tham gia không chỉ có công chức KTNN chuyên ngành IV mà còn mở rộng tới công chức làm công tác kiểm toán dự án đầu tư xây dựng trong toàn Ngành, theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại các KTNN khu vực.

KTNN lựa chọn 28 dự án kiểm toán đánh giá hiệu quả sau đầu tư. Ảnh minh họa. Nguồn: Tư liệu

KTNN lựa chọn 28 dự án kiểm toán đánh giá hiệu quả sau đầu tư. Ảnh minh họa. Nguồn: Tư liệu

Việc tăng cường đào tạo, tập huấn chuyên sâu, đặc biệt là mời chuyên gia trong lĩnh vực thi công, quản lý dự án tham gia chia sẻ kinh nghiệm, xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn cấp thiết:

Trước hết, các dự án giao thông thế hệ mới - đường sắt đô thị, hầm xuyên núi chiều dài lớn, cảng hàng không quy mô lớn - đều ứng dụng công nghệ thiết kế, thi công hiện đại (công nghệ đào hầm TBM, NATM, mô hình thông tin công trình BIM, vật liệu mới như cát biển thay thế cát sông...). Nếu không được cập nhật kiến thức kỹ thuật chuyên sâu, kiểm toán viên sẽ khó nhận diện đúng bản chất kỹ thuật để xây dựng tiêu chí kiểm toán trọng yếu, rủi ro phù hợp.

Việc huy động chuyên gia không đơn thuần là một hoạt động bồi dưỡng kiến thức mà là một kênh bổ sung thông tin thực tiễn quan trọng cho hoạt động kiểm toán, phù hợp với định hướng của Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2030 về việc vận dụng cơ chế chuyên gia, thuê cơ quan chuyên môn để kiểm định, giám định khi cần thiết trong quá trình kiểm toán. 

Bên cạnh đó, công tác quản lý dự án hiện đại ngày càng gắn với dữ liệu số - mô hình BIM, nhật ký điện tử, hệ thống giám sát thi công tự động - đòi hỏi kiểm toán viên nắm được các điều kiện để dữ liệu số có giá trị làm bằng chứng kiểm toán, như việc phân quyền truy cập, lưu vết chỉnh sửa, thời điểm cập nhật dữ liệu, người phê duyệt và sự liên kết giữa bản vẽ - khối lượng - nghiệm thu - thanh toán.

Có thể nói, công tác tập huấn, đào tạo chuyên sâu giúp kiểm toán viên cập nhật kiến thức, công nghệ, nâng cao kỹ năng kiểm toán dự án đầu tư, rút ngắn thời gian tiếp cận công nghệ mới, tăng tính chính xác trong đánh giá kỹ thuật, qua đó nâng cao chất lượng, độ tin cậy của kết luận, kiến nghị kiểm toán đối với các dự án hạ tầng có tính chất kỹ thuật đặc thù, phức tạp.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

NGUYỄN LỘC

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/luong-hoa-gia-tri-cua-du-an-ha-tang-qua-kiem-toan