Làng tôi bên bến sông

VHXQ - 'Giòng sông chảy ai người xin níu lại/ Giòng sông đi cho nước nói ngàn ngày' (Bùi Giáng). Làng tôi nằm bờ tây bắc sông Đầm, chạy dài từ xóm Một ở phía đông bắc tới xóm Vĩnh Yên ở mé tây nam.

Nước lũ về làng Đầm. ảnh: Bùi Trúc

Nước lũ về làng Đầm. ảnh: Bùi Trúc

Ngắn vậy thôi, mà dân trong xóm đứng ở khúc giữa hay định vị “ở ngoài xóm Một” hay “ngoài Vĩnh Yên” nghe như xa lơ xa lắc.

1. Sông Đầm thiệt ra là một nhánh sông cùng, rót vô bàu nước rộng vài trăm héc ta, nối với hệ sông Tam Kỳ qua chiếc vòi nhỏ chảy men theo làng Xuân Quý, Mỹ Cang, lượn cong theo chòm ruộng Lầy, Soi Doi trước khi ghé xóm Vĩnh Yên rồi chảy trước bờ ruộng Cầu của làng Vĩnh Bình.

Xưa làng tôi tách bạch hai nhóm cư dân riêng biệt ngành nghề, nậu bờ làm ruộng, nậu ghe chuyên sông nước cá tôm. Ngày đó rất nhiều lùm chươm nhử cá trên sông, những dãy đăng hình chữ V chạy dài theo nước. Chiều chiều những tiếng gõ be ghe đập sào đuổi cá vang khắp mặt sông như chàng Trương Chi đang hát “ngồi đây ta gõ ván thuyền ta ca”.

Làng gối đầu lên cánh tay sông, dù nậu ghe hay bờ, dân làng cũng đều chung niềm mật thiết, không đánh bắt cá tôm cũng chuyên rong, chở lúa hằng ngày. Rong vớt từ đáy sông chở về làm phân bón nuôi khoai sắn, lúa gặt từ ruộng gành ruộng biền ven sông cũng theo ghe chở về nhà. Nên chi dọc bờ có rất nhiều bến nhỏ với những cái tên thân thuộc bao đời.

Gần nhất là bến ông Đà ở đoạn giữa làng chạy xuống. Đây là bến hẳm và sâu nhứt trong các bến, là thiên đường vùng vẫy của tuổi thơ tôi và bạn bè trong xóm. Ngay trên bờ là hàng cây lộc vừng cổ thụ, đứa nào không tắm thì trèo lên cây ngồi chơi. Sông xưa nước trong veo, nước lên xuống nhị kỳ sáng tối, thường tắm buổi trưa vì đó là lúc nước theo thủy triều lên mạnh chảy đổ về Đầm. Cuối ngày nước chảy ngược trở ra, về hướng Tam Kỳ.

Bến ông Đà là nơi cập bờ của các ghe rong ghe lúa của nậu bờ. Thi thoảng ghe gia đình chú Hai Bưởi từ đâu bến Kỳ Phú về thăm, bầu đoàn thê tử vác chèo vác dầm gánh lưới í ới ngang ngõ ồn ã xôn xao. Cũng bến sông này, ghe muối từ chợ Tam Kỳ ghé bán dạo với giọng rao quen thuộc: Ai mua muối lương xuống bến ông Đà mua hợi!

Bến ông Đà giờ nước cạn, chưa đến độ “rày đã nên đồng” nhưng lội chỉ ngang hông. Và chẳng còn con nít tắm trưa hay người lớn tắm chiều như ngày tôi còn nhỏ. Lại nhớ những đêm ngồi lưng trâu bơi sông về trễ có ba đứng chờ trên bến; những đêm xách đèn măng-sông chạy băng đồng đuổi bắt cá diếc cá rô; những mùa rạm đi theo ba chống ghe ra giữa đầm cầm ngọn đèn soi bằng vỏ xe đạp cũ...

2. Trái với vẻ hiền hòa dịu êm ngày nắng, khi mưa bão về, như bao con sông quê xứ Quảng, sông Đầm bỗng chốc phủ lên mình chiếc áo nâu đục ngầu gầm gừ dữ dội. Sự ấy đã là lệ thường rồi.

Nước từ sông Đầm tràn vào xóm thôn. Ảnh: Bùi Trúc

Nước từ sông Đầm tràn vào xóm thôn. Ảnh: Bùi Trúc

Lũ lụt mùa mưa là ký ức hằn sâu với mọi cư dân lớn lên ở vùng đất này. Dòng sông hiền hòa ngày nào bỗng phình to lênh láng, ngập tràn nuốt chửng những bãi bờ vườn tược. Nước lên nhanh, tràn vào ngõ xóm, những con đường làng như những dòng sông nhỏ rợp bóng tre.

Dân làng chạy đua với thời gian kê cao đồ đạc, di tản gia súc gia cầm xe cộ đến những khu vực cao hơn. Dọn lụt, chắc hẳn là công việc phức tạp bậc nhất với người dân, không phải ngẫu nhiên mà ông bà xưa xếp vào nhóm rối ren “thứ nhì dọn lụt thứ ba nợ đòi”.

Tôi chọn về thăm nhà ngay những ngày mưa ròng, đường về làng ngập ba bốn chỗ. Những đoạn đầu vẫn chạy xe qua được, đoạn gần tới nhà, nước sâu quá ngực.

Trong nhà ai đó vọng ra: “Đàng ni lút rồi không đi được mô, đi quành ra sau rừng nớ”. Bỏ xe nhà hàng xóm cách mấy vườn tre, gắn đèn pin lên trán, tôi xắn quần lội bộ về nhà, giữa lềnh bềnh tre trảy rác rưởi quanh chân. Ngõ trước đã ngập, ba trổ một ngõ nhỏ sau hè, giữa bờ tre gai làm lối đi.

Nhà như đảo giữa bốn bề nước, chỉ nền nhà cao nước chưa vô, quanh sân lềnh bềnh bèo và rác. Một chiếc thuyền nhỏ neo vào hàng hiên trước sân, sẵn sàng sau những ngày nằm úp nghỉ ngơi sau hè.

Làng Đầm xưa nay là vậy, ai cũng sẵn một chiếc ghe nhỏ sau nhà, như một phương tiện di chuyển thiết yếu khi cần. Sè sẹ cởi áo mưa, tắt pin, lách cửa vào nhà, thấy ba mẹ đang ngồi trước tivi coi bản tin ngập lụt. “Cái thằng ni thiệt, đã nói đêm hôm mưa gió đừng về, có chi mô mà lo”. Mẹ tỏ ý trách, mẹ đâu biết thằng con trai rất khoái những câu trách như vậy, rất chi là mẹ.

Lâu lắm rồi, dễ chừng mười mấy hai mươi năm, mới lại lội bì bõm nước lụt quê nhà. Hồi nhỏ thì thường xuyên, có khi một năm mấy bận, cứ nước vào nhà là bị bắt ngồi thu lu trên phản, để người lớn khiêng vác dọn dẹp. Xong xuôi đâu đó ba thường cho lên ghe ngồi chống đi loanh quanh đường làng, coi người ta bắt chuột bắt rắn bắt chồn… Lũ lụt mỗi năm đôi bận, mà thằng con trai cứ mê mải lang bạt tận đâu đâu xứ người, nên dễ chừng quên cái cảnh nước nôi.

Đêm nay về, để được lội bì bõm quanh sân, dòm lềnh bềnh cái rơm cái rác, những củi những cây. Đêm nay về, để được nằm bên mẹ nghe kể chuyện xưa, nghe tiếng gió tiếng mưa, thỉnh thoảng vén mùng ngồi dậy ra sân coi nước lên xuống.

Sông Đầm ngày hè. Ảnh: Bùi Trúc

Sông Đầm ngày hè. Ảnh: Bùi Trúc

3. Một đêm mưa về thăm lại, mà nghe ngày cũ lùi lũi hiện về, mồn một. Mỗi khi nước lên đầu ngõ, việc của thằng con trai là chạy ra “cắm chớn” rồi báo cho người lớn biết chừng. Cắm chớn - là bẻ một cành tre khô, cắm xuống đất chỗ nước lên đánh dấu, một chặp chạy ra dòm nước xuống hay lên.

Đêm nay về, nằm trên chõng tre rầm rì nói chuyện với mẹ, dù nước vẫn quanh sân quanh vườn, mà nghe bình yên lạ lùng, như thể gió mưa kia không hề qua đây…

Ôi những bến sông gắn bó bao nhiêu chuyện vui buồn làng Đầm. Đến tận chừ vẫn còn ám ảnh cảnh chú bốn Bạn cõng bà Tào oằn trên vai chạy dọc bờ sông. Bà ra bến ông Cừ giặt giũ rồi xây xẩm ngã luôn xuống bến, khi người ta biết chuyện thì bà đã bị cuốn trôi tới bến ông Đà rồi.

Những mùa cũ rong rêu, những ngày cũ bềnh bồng, mà thương.

Và tự bao đời, cư dân làng Đầm không trách hờn oán giận chi sông, mà lựa chọn cách vui vẻ sống cùng, thấu nghe tiếng lòng sông từng mùa như chàng lái đò trong văn Hermann Hesse.

Mùa nắng hiền hòa hay mùa mưa nước dữ, sông vẫn đó, làng vẫn đây gối đầu lên bến, như sợi cước diều neo lòng người vào đất mẹ đến căng dây.

BÙI TRÚC

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/lang-toi-ben-ben-song-3312424.html