Gợi mở về nông nghiệp đô thị

Đà Nẵng không chỉ cần lớn lên bằng những khu đô thị mới, những trục giao thông, khu công nghiệp mở rộng và dịch vụ sôi động, mà còn phải quan tâm đến' trụ đỡ' là hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp nông thôn, nhất là sau khi hợp nhất với vùng đất Quảng Nam rộng lớn.

Trong khi biến đổi khí hậu ngày càng khó lường, kinh tế công thương còn bất định, nông nghiệp đô thị không là phần phụ của phát triển, mà trở thành một cách để thành phố tự bồi đắp nền tảng sống của mình, giữ cái “van” an sinh xã hội.

Nói về “nền tảng sống” thì ngay thành phố Đà Nẵng cũ vẫn được bao bọc bởi hệ sinh thái của xứ Quảng rộng lớn.

Mỗi sớm mai, gió ngoại ô tràn vào thành phố mang theo hương biển với cá mắm từ Cửa Đại, An Lương dọc theo đường ra đến Sơn Trà và Nam Ô. Gió ngoại ô cũng mang theo hương thơm đất đồng, từ rau Trà Quế, rau cải Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên,… vào lòng đô thị.

Không ngoa khi nói rằng gió ngoại ô mang theo sản vật làm cho phố đậm thêm hồn cốt xứ sở.

Ở thì hiện tại và tương lai, Đà Nẵng vẫn phải đầu tư phát triển nông nghiệp dù rằng tăng trưởng nông nghiệp không tạo sức bật lớn trong GRDP. Tuy vậy, với đa số cư dân sống trên vùng nông thôn rộng lớn, nông nghiệp vẫn là chỗ dựa sinh kế, nhất là khi nền kinh tế “trái gió trở trời” mà bài học thời Covid-19 là kinh nghiệm xương máu.

Chính vì vậy, dù Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần I, chỉ nhắc ngắn gọn về phát triển nông nghiệp nhưng tinh thần rất rõ là phát triển bền vững, tích hợp đa giá trị, gắn sản xuất với sinh thái và chất lượng sống. Với tâm thế đó, nông nghiệp đô thị như hệ sinh thái mở, nơi sản xuất lương thực, thực phẩm, bảo tồn thiên nhiên và thích ứng biến đổi khí hậu cùng tồn tại trong một cấu trúc hài hòa.

Vấn đề là lựa chọn những mô hình nào khả thi để phát triển nông nghiệp đô thị? Trong định hướng lớn, nông, lâm nghiệp và thủy sản của Đà Nẵng cần phát triển bền vững, gắn với du lịch, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hữu cơ và tích hợp đa giá trị.

Ở phía tây, vùng miền núi vẫn giữ vai trò “lá phổi xanh” và nguồn sinh thủy tự nhiên của thành phố. Rừng nơi đó không chỉ cho gỗ hay lâm sản, mà giữ nước, giữ đất, điều hòa khí hậu và giảm thiểu thiên tai cho hạ du.

Một số mô hình cho thấy hiệu quả tích hợp: trồng dược liệu dưới tán rừng (như sâm Ngọc Linh, quế, đảng sâm, ba kích) gắn với sơ chế, chế biến tại chỗ; kết hợp du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng để gia tăng giá trị dịch vụ.

Xuống vùng trung du và ven đô, mô hình vườn - trang trại thông minh, canh tác hữu cơ, tuần hoàn nước và chất thải có thể giúp giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao khả năng chống chịu trước hạn hán hay mưa lớn.

Cần quy hoạch không gian phù hợp để phát triển các vành đai xanh, các khu sản xuất kết hợp trải nghiệm, nơi người dân đô thị không chỉ tiêu dùng nông sản mà còn trực tiếp tham gia chuỗi sản xuất xanh.

Mặt khác là đưa kinh tế tuần hoàn và công nghệ số vào nông nghiệp đô thị. Khi chất thải nông nghiệp quay trở lại làm phân bón, năng lượng sinh khối; dữ liệu giúp quản lý mùa vụ, nguồn nước, rủi ro thiên tai, thì nông nghiệp không chỉ cung cấp thực phẩm, mà còn là giải pháp môi trường.

Ở không gian biển, khai thác xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền, chống khai thác IUU không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà là cách giữ nguồn lợi lâu dài.

Song song đó, việc bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái ven bờ, đất ngập nước (như hồ Sông Đầm hay rừng ngập nước hạ lưu sông Thu Bồn) là tư duy thích ứng: dùng tự nhiên để bảo vệ đô thị trước bão lũ và nước biển dâng, thay vì chỉ trông chờ vào các giải pháp cứng.

Khi thành phố biết dành chỗ cho rừng, cho cây xanh, cho mặt nước và cho sinh kế gắn với thiên nhiên, Đà Nẵng không chỉ phát triển theo chiều rộng, mà đang học cách sống bền vững hơn trước những biến động.

Nông nghiệp đô thị, vì thế, không phải là giải pháp ngắn hạn. Đó là lựa chọn phát triển có chiều sâu, nơi Đà Nẵng học cách lớn lên chậm một chút nhưng vững vàng hơn trước những biến cố khí hậu và thời cuộc.

ĐĂNG QUANG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/goi-mo-ve-nong-nghiep-do-thi-3319412.html