'Đánh thức' tiềm năng nông nghiệp vùng cao

ĐBP - Từ những vùng đất còn nhiều khó khăn, nông nghiệp Điện Biên đang đứng trước cơ hội chuyển mình khi tư duy sản xuất từng bước được đổi mới. Phát huy lợi thế về đất đai, khí hậu, người dân đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng khoa học kỹ thuật, liên kết sản xuất và từng bước hình thành những vùng hàng hóa có giá trị. Đổi mới tư duy không chỉ mở rộng dư địa phát triển nông nghiệp mà còn tạo sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập và đánh thức những tiềm năng vốn còn được ví như “ngủ quên” giữa núi rừng.

Anh Vừ A Lồng, bản Huổi Lướng, xã Mường Lạn chăm sóc cây Cà phê.

Anh Vừ A Lồng, bản Huổi Lướng, xã Mường Lạn chăm sóc cây Cà phê.

Từ trung tâm xã Mường Lạn, chúng tôi men theo những cung đường quanh co giữa núi đồi để tìm đến khu chăn nuôi, trồng cà phê rộng gần 4ha của anh Vừ A Lồng, bản Huổi Lướng. Dẫn chúng tôi “mục sở thị” trang trại, anh Lồng say sưa giới thiệu từng khu vực sản xuất. Những hàng cà phê xanh tốt trải dài bên khu chăn nuôi được quy hoạch bài bản, cho thấy cách nghĩ, cách làm mới của anh trong hành trình biến đất đai thành sinh kế, tạo nguồn thu ổn định cho gia đình.

Chỉ tay về phía những hàng cà phê xanh mướt, anh Lồng chia sẻ: “Trước đây, khu đất này chủ yếu trồng các loại cây truyền thống, hiệu quả kinh tế không cao. Nhận thấy cây cà phê phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu và có tiềm năng mang lại giá trị cao hơn, tôi mạnh dạn chuyển đổi 1,5ha đất đồi sang trồng cà phê. Sau nhiều năm chăm sóc, cây cà phê sinh trưởng tốt, cho năng suất ổn định, từng bước trở thành nguồn thu nhập đáng kể của gia đình. Thấy hiệu quả rõ rệt, vừa qua, gia đình tôi tiếp tục mở rộng diện tích, trồng thêm 1,5ha, với kỳ vọng nâng cao thu nhập và phát triển sản xuất lâu dài”.

Không dừng lại ở việc phát triển cây cà phê, với tư duy đổi mới, anh Vừ A Lồng còn mạnh dạn đầu tư xây dựng chuồng trại, phát triển chăn nuôi lợn đen theo hướng hàng hóa. Hiện gia đình anh duy trì đàn hơn 100 con, vừa tận dụng lợi thế sẵn có, vừa tạo thêm nguồn thu nhập. Mô hình kết hợp trồng trọt, chăn nuôi đã giúp gia đình anh đa dạng nguồn sinh kế, đem lại thu nhập ổn định trên 300 triệu đồng mỗi năm.  

Trên những cánh đồng trước đây chủ yếu canh tác lúa, Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp tổng hợp Noong Luống, xã Thanh Yên đã mạnh dạn chuyển hướng sản xuất, liên kết với các hộ dân xây dựng vùng rau an toàn. Những luống đỗ, bí, cà chua, dưa leo… thay thế dần cách canh tác truyền thống, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung.

Những sản phẩm rau an toàn, chất lượng của HTX Nông nghiệp tổng hợp Noong Luống đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

Những sản phẩm rau an toàn, chất lượng của HTX Nông nghiệp tổng hợp Noong Luống đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

Hướng tới nền nông nghiệp xanh, thông minh và bền vững, trên diện tích 12ha, HTX từng bước ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng quy trình chăm sóc, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật theo hướng an toàn, tiết kiệm, thân thiện với môi trường. Đồng thời, HTX chú trọng kiểm soát chất lượng, nâng cao giá trị nông sản và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Mỗi năm, HTX cung ứng ra thị trường từ 500 - 700 tấn rau, củ, quả các loại, góp phần đưa nông sản an toàn đến gần hơn với người tiêu dùng.

Anh Nguyễn Xuân Huy, Giám đốc HTX Nông nghiệp Noong Luống, xã Thanh Yên cho biết: “HTX xác định ứng dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất an toàn gắn với liên kết chặt chẽ cùng người dân là hướng đi lâu dài. Chúng tôi không chỉ quan tâm đến năng suất mà chú trọng nâng cao chất lượng, xây dựng uy tín cho sản phẩm và tìm đầu ra ổn định. Qua đó, giúp nông sản có sức cạnh tranh trên thị trường, đồng thời tạo việc làm, nâng cao thu nhập để người dân yên tâm đầu tư, gắn bó lâu dài với sản xuất nông nghiệp”.

Anh Nguyễn Văn Bắc, thôn A1, xã Thanh Yên kiểm tra hệ thống tưới nhỏ giọt.

Anh Nguyễn Văn Bắc, thôn A1, xã Thanh Yên kiểm tra hệ thống tưới nhỏ giọt.

Chuẩn bị cho vụ rau mới, gia đình anh Nguyễn Văn Bắc, thôn A1, xã Thanh Yên đang khẩn trương làm đất, lên luống trên diện tích 5.000m². Từng công đoạn được thực hiện cẩn thận, bài bản, sẵn sàng xuống giống những lứa rau mới. Anh Bắc cho hay: “Được HTX hướng dẫn, gia đình tôi đã áp dụng các phương pháp sản xuất mới như sử dụng màng phủ nilon, hệ thống tưới nhỏ giọt và phân bón hữu cơ. Nhờ đó, việc chăm sóc rau thuận lợi hơn, tiết kiệm nước, giảm chi phí sản xuất, đồng thời tạo ra những sản phẩm an toàn, chất lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng”.

Hướng tới xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa tập trung, xanh, thông minh và bền vững, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Điện Biên đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU về cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, tốc độ giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trên 5%. Hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung khoảng 70.000ha, gồm: 40.000ha mắc ca, 20.000ha cà phê, 3.000ha cây ăn quả (dứa, chanh leo), 6.500ha rau màu; 25% số xã có vùng sản xuất hàng hóa tập trung đạt 2.000ha/xã.

Người dân xã Mường Ảng chăm sóc cà phê.

Người dân xã Mường Ảng chăm sóc cà phê.

Hiện thức hóa mục tiêu trên, tỉnh Điện Biên tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với diện tích đất kém hiệu quả. Trong đó, thực hiện chuyển đổi trên đất nương kém hiệu quả sang các cây trồng có giá trị kinh tế cao như: Mắc ca, cà phê, dứa và cây ăn quả…; chuyển đổi diện tích lúa nước một vụ, hai vụ hiệu quả thấp sang trồng các cây ngắn ngày, cây có giá trị kinh tế cao như chanh leo, dứa, hoa, rau, cây màu, dược liệu phù hợp với điều kiện từng vùng.

Tích cực tuyên truyền vận động Nhân dân tham gia thực hiện việc cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Nghiên cứu, tham mưu ban hành cơ chế, chính sách đặc thù của tỉnh nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, các chuỗi liên kết, xây dựng thương hiệu nông sản quốc gia; hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (về đất đai; ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số; xây dựng nhãn hiệu sản phẩm, xúc tiến thương mại); hỗ trợ các dự án liên kết sản xuất nông nghiệp thông minh. Đầu tư các hạ tầng nông nghiệp thiết yếu gồm: Hạ tầng giao thông vùng sản xuất; điện - nước - viễn thông phục vụ nông nghiệp công nghệ cao; cơ sở giống và chuyển giao công nghệ; hạ tầng chế biến, bảo quản sau thu hoạch; hạ tầng dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số...

Rau cần đem lại hiệu quả kinh tế cao cho một số hộ dân thôn Việt Thanh, xã Thanh Nưa.

Rau cần đem lại hiệu quả kinh tế cao cho một số hộ dân thôn Việt Thanh, xã Thanh Nưa.

Để “đánh thức” tiềm năng nông nghiệp vùng cao, bên cạnh nguồn lực đầu tư, chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, yếu tố quyết định vẫn là sự thay đổi từ nhận thức đến cách làm của người dân. Khi mạnh dạn đổi mới tư duy, ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang khai thác hiệu quả lợi thế đất đai, người dân đã từng bước tạo dựng những mô hình kinh tế phù hợp, mở rộng sinh kế, nâng cao thu nhập và tạo động lực cho vùng cao phát triển bền vững.

Sầm Phúc     

Nguồn Điện Biên Phủ: https://baodienbienphu.vn/tin-bai/kinh-te/danh-thuc-tiem-nang-nong-nghiep-vung-cao