Bồi đắp cốt cách nhân văn trong mỗi con người
Hà Nội trong mắt người tứ xứ đôi khi hiện lên như một mớ hỗn độn của âm thanh, khói bụi và những khối bê tông. Nhưng với những người đã trót mang cái nghiệp 'thị dân kinh kỳ', Hà Nội lại hiện hữu như một thực thể 'rất người', có tính cách riêng, đôi khi hơi khó chiều và cực kỳ bảo thủ. Để hiểu được cái sự bền bỉ của mảnh đất này, đừng nhìn vào những con số tăng trưởng hay những dự án nhiều chục nghìn tỷ đồng, mà hãy nhìn vào cái cốt cách đang âm thầm vận hành trong từng ngõ ngách. Đó là một thứ bản sắc không nằm trong bảo tàng, nó nằm trong cách người ta ăn mặc, cách người ta chào nhau và cả cách người ta 'khó tính' với bát nước dùng của một món quà Kẻ Chợ.

Cốt cách người Hà Nội phải được gìn giữ trong mỗi nếp nhà. Ảnh: Lê Bích
Cốt cách người Tràng An
Cái cốt lõi đầu tiên của thứ bản sắc này chính là một sự kiêu hãnh ngầm định, một dạng tự trọng tự thân đôi khi dễ bị lầm tưởng là kiêu kỳ hay thậm chí... “tinh tướng”! Người Hà Nội gốc không có thói quen khoe mẽ bằng những thứ trang sức lấp lánh hay những chiếc xe bóng lộn. Sự giàu có hay địa vị thường được giấu kín sau những cánh cửa gỗ đã bạc màu hay trong những nếp áo lụa giản dị mà cực kỳ chỉn chu. Cái kiêu hãnh ấy thể hiện rõ nhất ở sự kỹ tính đến mức cực đoan trong nghệ thuật thưởng thức. Ở Hà Nội, đồ ăn thức uống không bao giờ được gọi là “thực phẩm”, người ta gọi đó là “quà”. Ăn một bát bún, nhấp một chén trà, người ta coi đó là đang nhận một món quà từ sự khéo léo của bàn tay con người và sự chắt lọc của đất trời. Khái niệm “quà” đã nâng tầm việc lấp đầy dạ dày thành một hành vi văn hóa đầy trân trọng, một sự hưởng thụ có ý thức.
Hãy nhìn cái cách một thị dân đúng nghĩa “soi” bát bún thang. Đó không phải là ăn, mà đó như là một cuộc giám định nghệ thuật. Mọi thứ từ giò lụa, trứng tráng đến lườn gà đều phải được thái chỉ nhỏ như sợi tơ, bày biện hài hòa như một bức tranh thủy mặc. Nước dùng phải trong vắt, ngọt sâu nhưng thanh thoát và đặc biệt là phải thoang thoảng mùi hương huyền thoại của tinh dầu cà cuống. Cái sự “khó tính” này chính là một màng lọc tự nhiên, một thứ “quyền lực mềm” giúp Hà Nội giữ lại được những giá trị tinh hoa nhất giữa một thời đại mà cái gì cũng có thể làm giả hoặc làm nhanh cho xong chuyện.
Song hành cùng sự kiêu hãnh là một định dạng thanh lịch đã trở thành thương hiệu, nhưng là thứ thanh lịch nằm trong huyết quản chứ không phải trên môi mép. Người Hà Nội trọng cái danh xưng như trọng chính danh dự của mình. Cách họ dùng những tiếng “dạ”, “vâng” đúng lúc, đúng chỗ tạo nên một nhịp điệu khoan thai, nhã nhặn.
Đặc biệt, trong cái cấu trúc kỳ lạ “làng trong phố, phố trong làng”, người ta vẫn thấy những nét ứng xử đầy khiêm cung của các bậc cao niên. Có những cụ bà ở những ngôi làng cổ nay đã hóa phố, tóc trắng như cước, lưng còng nhưng hễ thấy khách lạ hỏi đường là vẫn giữ nếp chào hỏi niềm nở. Tiếng xưng “em” và gọi người đối diện là “bác” nhẹ nhàng thốt ra từ miệng một bà cụ tám mươi tuổi khi trả lời một người lạ bất kể tuổi tác không phải là sự hạ thấp mình mà là đỉnh cao của sự khiêm nhường và tôn trọng. Đó là cái nếp gia phong được rèn giũa qua nhiều đời, biến những va chạm đời thường trở nên mềm mại và nhân văn hơn.
Chính cái lối ứng xử này đã nuôi dưỡng một tinh thần tình làng nghĩa xóm bền chặt, thứ mà ở nhiều đô thị hiện đại đã bị “bê tông hóa”. Ở Hà Nội, người ta vẫn giữ thói quen ốm đau thăm hỏi, tối lửa tắt đèn có nhau theo cái cách rất riêng. Một đĩa quà quý, một bát canh ngon được bưng sang biếu hàng xóm không chỉ là miếng ăn, mà là sự sẻ chia. Cái cấu trúc làng xã ẩn mình trong lòng phố thị chính là chất keo kết dính những con người xa lạ, biến những con phố "hàng" thâm nghiêm hay những ngõ nhỏ chằng chịt thành một cộng đồng ấm áp. Dù phố Hàng Gai giờ đã rực rỡ lụa là công nghiệp, phố Hàng Bạc không còn rộn rã tiếng búa thủ công như xưa, nhưng cái lối sống thị dân chỉn chu, trọng tình nghĩa vẫn lẩn khuất đâu đó sau những mái ngói rêu phong. Đây chính là đặc sản quy hoạch tự nhiên của Hà Nội - nơi sự hiện đại không làm mai một được cái tình người nguyên bản.
“Định danh di sản nhân văn”
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải sòng phẳng với nhau rằng, cái cốt cách ấy cũng chứa đựng một sự bảo thủ khá đậm nét. Đây là một dạng phản xạ tự vệ tích cực của một đô thị đã kinh qua quá nhiều biến động. Người Hà Nội thường nghi ngờ những cái gì quá mới mẻ, quá nhanh chóng hoặc có vẻ thiếu đi chiều sâu văn hóa. Họ thích sự bền vững, thích những giá trị đã được “thử lửa” qua thời gian. Chính sự bảo thủ này đã cứu Hà Nội khỏi việc bị "xâm lấn" bởi những khối bê tông vô hồn trong suốt nhiều thập kỷ qua. Nhưng trong cái thời đại 4.0 này, nếu cứ ôm khư khư cái rêu phong mà không chịu chuyển mình, Hà Nội dễ trở thành một bảo tàng tĩnh lặng và xơ cứng. Bài toán đặt ra là làm sao để đổi mới mà không mất chất, làm sao để hiện đại hóa mà không làm “bay màu” cái sự thanh lịch vốn có.
Tôi cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần một chiến lược “định danh di sản nhân văn”. Hà Nội không nên chỉ chăm chăm bảo tồn những bức tường đá tổ ong hay những mái ngói vảy cá, mà phải bảo tồn chính những con người đang giữ linh hồn của phố. Chúng ta cần vinh danh và hỗ trợ những “nghệ nhân sống” - những người đang giữ công thức một món quà xưa, những gia đình đang duy trì nếp sống tam đại đồng đường kiểu mẫu. Tại sao không biến họ thành những “đại sứ văn hóa” ngay tại nơi họ sinh sống? Thay vì để họ lầm lũi trong ngõ sâu, hãy đưa họ vào tâm điểm của hệ sinh thái đô thị thông minh.
Hãy tưởng tượng một hệ điều hành văn hóa trên nền tảng số, nơi mỗi công dân hay du khách chỉ cần một cú chạm nhẹ trên điện thoại là có thể kết nối với “tâm hồn” của thành phố. Bước chân qua phố Hàng Mã hay phố Hàng Đồng, công nghệ thực tế ảo không chỉ cho bạn thấy lớp trầm tích lịch sử mà còn kết nối bạn với câu chuyện về gia phong của một dòng họ đã ở đó bảy đời. Những giá trị về sự thanh lịch, về cách xưng “em” đầy khiêm nhường của các cụ bà hay nghệ thuật thưởng thức một bát bún thang, bún ốc đúng điệu sẽ được truyền tải một cách sống động qua các ứng dụng số. Đây chính là cách chúng ta “số hóa” lòng tự trọng Hà Nội, biến những giá trị xưa cũ thành một thứ tài sản số có giá trị giáo dục và kinh tế cực cao, khiến giới trẻ thấy rằng việc sống thanh lịch và trọng nghĩa tình cũng “ngầu” chẳng kém gì những trào lưu toàn cầu ngoài kia.
Hà Nội của những thập kỷ tới chắc chắn sẽ có thêm nhiều cầu vượt, đường cao tốc và những cao ốc, trung tâm thương mại lộng lẫy. Nhưng nếu trong lòng đô thị hiện đại ấy, người ta không còn biết thưa gửi nhẹ nhàng, không còn biết quý trọng một món quà quê hay thiếu đi cái tình xóm giềng nồng hậu, thì khi đó Hà Nội sẽ chỉ còn là một cái xác không hồn. Sự phát triển bền vững nhất của Thủ đô phải bắt đầu từ việc đánh thức và nuôi dưỡng cái cốt cách nhân văn trong mỗi con người. Chúng ta không cần áp đặt một khuôn mẫu lỗi thời, nhưng chúng ta cần tạo ra một môi trường văn hóa đủ mạnh để bất cứ ai đặt chân đến đây cũng cảm thấy mình muốn sống tử tế hơn, hào hoa hơn.
Có thể thấy, cốt cách người Hà Nội giống như một dòng chảy ngầm, lúc êm đềm lúc mạnh mẽ nhưng chưa bao giờ ngừng nghỉ. Nó chính là bộ lọc để gạn đục khơi trong, là thước đo để điều chỉnh hành vi và cũng là điểm tựa tinh thần để chúng ta tự tin bước vào kỷ nguyên của đổi mới. Khi chúng ta hiểu và trân trọng những giá trị cốt lõi từ trong huyết quản của thành phố, chúng ta mới có đủ bản lĩnh để kiến tạo nên một Hà Nội vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/boi-dap-cot-cach-nhan-van-trong-moi-con-nguoi-748228.html










