Bắc Ninh với truyền thống khoa bảng

Sau hợp nhất, tỉnh Bắc Ninh mở ra một không gian phát triển rộng lớn, đồng thời quy tụ gần như trọn vẹn hai miền đất học nổi tiếng ở phía Bắc và phía Nam sông Cầu. Từ quê hương Thái sư Lê Văn Thịnh, những làng khoa bảng Kim Đôi, Tam Sơn, Hoài Thượng đến vùng Yên Ninh của Tiến sĩ Thân Nhân Trung, Song Khê của Trạng nguyên Đào Sư Tích, Dĩnh Kế của Trạng nguyên Giáp Hải..., truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng nhân tài đã được bồi đắp qua nhiều thế kỷ. Di sản ấy hôm nay không chỉ được lưu giữ trên bia đá, trong gia phả hay tại các nhà thờ danh nhân, mà còn tiếp tục được viết bằng thành tựu giáo dục, khoa học và khát vọng vươn lên của thế hệ trẻ.Đây là bài thứ 4 trong tuyến chuyên đề 'Giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa và con người Bắc Ninh' do Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển thực hiện.

Tòa Tiền tế, Văn Miếu Bắc Ninh - biểu tượng của truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng nhân tài trên quê hương Kinh Bắc.

Tòa Tiền tế, Văn Miếu Bắc Ninh - biểu tượng của truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng nhân tài trên quê hương Kinh Bắc.

Trong lịch sử văn hiến Việt Nam, Kinh Bắc là một trong những vùng đất tiêu biểu nhất về truyền thống hiếu học và khoa bảng. Không gian Kinh Bắc xưa trải rộng trên phần lớn địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang trước khi hợp nhất và một số khu vực nay thuộc Hà Nội, Hưng Yên. Đây là miền đất nằm ở cửa ngõ phía Bắc kinh thành Thăng Long, được kết nối bởi hệ thống sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống; vừa giữ vị trí phên giậu, vừa là nơi giao lưu kinh tế, văn hóa giữa miền núi, trung du với đồng bằng Bắc Bộ.
Ngày 1/7/2025, tỉnh Bắc Ninh mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, đồng thời vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tỉnh có 99 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 66 xã và 33 phường. Sự thay đổi về địa giới không làm đứt đoạn các lớp văn hóa vốn đã gắn bó lâu đời; ngược lại, tạo điều kiện để nhận diện rõ hơn tính thống nhất của một không gian Kinh Bắc lịch sử. Những miền quê từng được nghiên cứu trong phạm vi hai tỉnh nay cùng hiện diện trong một chỉnh thể, bổ sung cho nhau về di sản, truyền thống và nguồn lực con người. Trên vùng đất ấy, việc học từ sớm đã vượt ra khỏi phạm vi cá nhân để trở thành công việc chung của gia đình, dòng họ và làng xã. Bên cạnh đình, chùa, đền, nghè là hệ thống văn chỉ, từ chỉ, trường học, nhà thờ danh nhân và nhà thờ họ. Nhiều làng dành ruộng học điền lấy hoa lợi nuôi thầy, mua sách, giúp học trò nghèo; người đỗ đạt được đón rước, khắc bia, thờ phụng, nhưng cũng phải giữ thanh danh và có trách nhiệm với quê hương. Chính cơ chế xã hội ấy đã tạo nên một môi trường khuyến học bền chặt, nơi tri thức được coi là con đường để tu dưỡng, lập thân và giúp đời.
Dấu mốc mở đầu đặc biệt thuộc về khoa thi năm Ất Mão 1075 dưới triều vua Lý Nhân Tông - khoa thi tuyển chọn nhân tài cấp quốc gia đầu tiên của nền khoa cử Việt Nam. Lê Văn Thịnh, người làng Đông Cứu, nay thuộc xã Đông Cứu, tỉnh Bắc Ninh, đỗ đầu khoa Minh kinh bác học. Từ một người học trò nơi làng quê ven sông Đuống, ông bước vào triều chính, làm quan đến chức Thái sư, tham gia giải quyết những công việc trọng yếu của quốc gia. Lê Văn Thịnh thường được suy tôn là bậc khai khoa của nền học vấn, khoa cử nước nhà. Việc người đỗ đầu khoa thi đầu tiên xuất thân từ Kinh Bắc không chỉ mở đầu truyền thống khoa bảng của quê hương mà còn báo hiệu sự hiện diện bền bỉ của trí thức vùng này trong bộ máy nhà nước Đại Việt.
Ở khu vực phía Bắc sông Cầu, người khai khoa của vùng đất Bắc Giang trước đây được nhiều tài liệu địa phương xác định là Nguyễn Viết Chất, quê Yên Dũng, đỗ khoa Hoành từ năm 1088. Từ hai dấu mốc ban đầu ấy, qua các triều Lý, Trần, Lê, Mạc, Lê Trung hưng và Nguyễn, các thế hệ người Kinh Bắc liên tục ghi tên trong các khoa thi, đảm nhiệm nhiều trọng trách về chính trị, quân sự, giáo dục, ngoại giao, văn hóa.
Kết quả nghiên cứu được công bố tại Hội thảo khoa học “Truyền thống khoa bảng tỉnh Bắc Giang với Văn Miếu - Quốc Tử Giám” năm 2017 xác định địa bàn tỉnh Bắc Giang trước hợp nhất có 60 vị đỗ đại khoa, trong đó 19 người được ghi danh trên bia tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Nổi bật là Trạng nguyên Đào Sư Tích thời Trần; Tiến sĩ, Thượng thư Bộ Lại Thân Nhân Trung thời Lê sơ; Trạng nguyên, Thượng thư Bộ Lại Giáp Hải thời Mạc; Tiến sĩ, Thượng thư Bộ Binh, Tham tụng Trần Văn Tuyền thời Lê Trung hưng... Trong khi đó, hệ thống 12 bia “Kim bảng lưu phương” tại Văn Miếu Bắc Ninh ghi danh 677 vị đại khoa của xứ Kinh Bắc lịch sử. Đây là hai hệ thống thống kê được xác lập theo phạm vi và nguồn tư liệu khác nhau, không thể cộng gộp một cách cơ học. Danh sách 677 vị trên bia đã bao gồm nhiều danh nhân sinh ra tại địa bàn Bắc Giang trước đây, đồng thời còn bao quát một số vùng nay thuộc Hà Nội, Hưng Yên. Nhận thức rõ giới hạn của từng nguồn số liệu là yêu cầu cần thiết để tránh biến niềm tự hào khoa bảng thành những phép tính thiếu căn cứ.
Bia đá lưu danh, dòng họ truyền lửa
Tọa lạc trên núi Phúc Sơn, nay thuộc phường Võ Cường, tỉnh Bắc Ninh, Văn Miếu Bắc Ninh là di tích tập trung rõ nhất ký ức khoa bảng của vùng Kinh Bắc. Theo sử liệu và nội dung văn bia, Văn Miếu được xây dựng muộn nhất từ thời Lê, ban đầu ở khu vực Thị Cầu; được tu bổ năm 1802, làm lại năm 1844 và chuyển về vị trí hiện nay vào năm 1893.
Trước khi di chuyển Văn Miếu, vào năm Kỷ Sửu 1889, Đốc học Đỗ Trọng Vĩ đã dày công sưu tầm, khảo cứu, đối chiếu nhiều nguồn tư liệu để biên soạn và cho khắc 12 bia “Kim bảng lưu phương”, nghĩa là bảng vàng lưu danh thơm. Các bia ghi chép về khoa thi, họ tên, quê quán, học vị và chức tước của 677 vị đại khoa xứ Kinh Bắc, từ khoa thi năm 1075 đến đầu thế kỷ XX. Hiện Văn Miếu còn lưu giữ 15 tấm bia đá. Trong đó, 12 bia tiến sĩ “Kim bảng lưu phương” là những hiện vật gốc, độc bản, có giá trị đặc biệt đối với việc nghiên cứu lịch sử giáo dục, khoa cử, địa danh và đội ngũ trí thức Kinh Bắc. Nguồn tư liệu này bổ khuyết tên tuổi một số người đỗ đại khoa thời Lý, Trần và những nhân vật chưa được phản ánh đầy đủ trong các bộ đăng khoa lục hoặc bia đề danh tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Văn Miếu Bắc Ninh được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia năm 1988. Năm 2020, 12 bia tiến sĩ được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia. Sau khi hai tỉnh hợp nhất, ý nghĩa đại diện của di tích càng rõ nét bởi những tên tuổi khắc trên bia vốn đến từ nhiều phủ, huyện của cả hai miền Kinh Bắc. Văn Miếu vì thế có đủ cơ sở để trở thành trung tâm tôn vinh đạo học, kết nối di sản khoa bảng của tỉnh Bắc Ninh mới.

Bài trí bia “Kim bảng lưu phương” tại Tả vu Văn Miếu Bắc Ninh - nguồn tư liệu quý về 677 vị đại khoa xứ Kinh Bắc

Bài trí bia “Kim bảng lưu phương” tại Tả vu Văn Miếu Bắc Ninh - nguồn tư liệu quý về 677 vị đại khoa xứ Kinh Bắc

Nếu bia đá lưu danh từng người, gia đình và dòng họ lại là nơi bền bỉ truyền lửa học hành. Tại Kim Đôi, nay thuộc phường Vũ Ninh, truyền thống ấy hiện diện đặc biệt rõ nét. Tư liệu địa phương ghi nhận làng có 25 vị đỗ đại khoa, trong đó dòng họ Nguyễn có 18 vị. Hiếm có trong lịch sử khoa cử là trường hợp năm anh em ruột Nguyễn Nhân Bỉ, Nguyễn Nhân Thiếp, Nguyễn Nhân Phùng, Nguyễn Nhân Đạc và Nguyễn Nhân Dư cùng đỗ tiến sĩ, làm quan dưới triều Lê Thánh Tông.
Vĩnh Kiều, nay thuộc phường Đồng Nguyên, là quê hương của một dòng họ Nguyễn nổi tiếng khoa bảng. Hoài Thượng, nay thuộc phường Mão Điền, gắn với dòng họ Nguyễn Đăng, nơi sinh thành Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo, Tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh, Tiến sĩ Nguyễn Đăng Tuân và Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo. Đỗ Trạng nguyên khoa Quý Hợi năm 1683, Nguyễn Đăng Đạo từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng, tham gia hoạt động chính trị, giáo dục và ngoại giao. Tam Sơn, nay là phường Tam Sơn, có hai Trạng nguyên là Nguyễn Quán Quang, đỗ năm 1246 và Ngô Miễn Thiệu, đỗ năm 1518. Hương Mạc, nay thuộc phường Phù Khê, là quê hương Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh. Ngũ Thái, nay thuộc phường Song Liễu, có Trạng nguyên Vũ Kiệt. An Bình và Hoài Thượng nay cùng thuộc phường Mão Điền, tạo nên một không gian giàu dấu tích khoa bảng bên bờ sông Đuống.
Ở phía Bắc tỉnh mới, Song Khê, nay thuộc phường Tiền Phong, được biết đến là một làng khoa bảng tiêu biểu. Tư liệu địa phương ghi nhận làng có 13 vị tiến sĩ được ghi danh tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Nổi bật trong truyền thống ấy là cha con Đào Toàn Bân và Đào Sư Tích. Đào Toàn Bân đỗ Thái học sinh thời Trần; con ông là Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Dần năm 1374, từng giữ chức Nhập nội hành khiển, Hữu ty Lang trung. Yên Ninh, nay là tổ dân phố thuộc phường Nếnh, là quê hương của Tiến sĩ Thân Nhân Trung. Ông sinh năm 1419, đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Sửu 1469, từng giữ chức Thượng thư Bộ Lại, Đông các Đại học sĩ, Quốc Tử Giám Tế tửu; là một trong những trí thức lớn dưới triều vua Lê Thánh Tông và thành viên Tao đàn Nhị thập bát tú. Tên tuổi Thân Nhân Trung gắn với mệnh đề “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” trong bài ký bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất 1442, dựng năm 1484 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Không chỉ là lời tôn vinh người đỗ đạt, tư tưởng ấy khẳng định sự hưng thịnh hay suy yếu của đất nước có quan hệ trực tiếp với việc đào tạo, lựa chọn và sử dụng người có đức, có tài. Trải qua hơn năm thế kỷ, lời văn bia vẫn mang ý nghĩa thời sự đối với công cuộc phát triển nguồn nhân lực hôm nay. Dĩnh Kế, nay thuộc phường Bắc Giang, là quê hương Trạng nguyên Giáp Hải. Ông đỗ đầu khoa Mậu Tuất năm 1538 dưới triều Mạc, làm quan đến Thượng thư Bộ Lại, có nhiều đóng góp trong chính trị và ngoại giao. Những áng văn bang giao gắn với ông thể hiện trí tuệ, bản lĩnh và ý thức bảo vệ quốc thể của trí thức Đại Việt. Đó mới là phần cốt lõi của truyền thống khoa bảng.
Để “nguyên khí” tiếp tục được bồi đắp
Sau hợp nhất, Bắc Ninh quy tụ hai hệ thống giáo dục từng có nhiều thành tích nổi bật. Trường THPT Chuyên Bắc Ninh và Trường THPT Chuyên Bắc Giang trở thành hai trung tâm đào tạo mũi nhọn của tỉnh mới. Việc cùng nằm trong một hệ thống quản lý không chỉ làm tăng quy mô mà còn mở ra khả năng chia sẻ đội ngũ, kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi, cơ sở vật chất và phương pháp giáo dục.
Tại kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025-2026, tỉnh Bắc Ninh có 174 trong tổng số 237 thí sinh dự thi đoạt giải ở 12 đội tuyển, gồm 10 giải Nhất, 58 giải Nhì, 52 giải Ba và 54 giải Khuyến khích; đứng thứ sáu toàn quốc về số lượng giải và thứ tư về số giải Nhất. Nhiều học sinh được lựa chọn tham dự vòng tuyển chọn các đội tuyển Olympic khu vực, quốc tế. Trong đó, Tạ Ngọc Minh, học sinh Trường THPT Chuyên Bắc Ninh, giành Huy chương Bạc Olympic Vật lý châu Á năm 2026. Thân Đức Chính và Phùng Quang Hưng, học sinh Trường THPT Chuyên Bắc Giang, được lựa chọn tham gia Olympic Sinh học quốc tế. Tại cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia năm học 2025-2026, học sinh Bắc Ninh có sáu dự án tham dự, năm dự án đoạt giải, gồm một giải Nhất, một giải Nhì, một giải Ba và hai giải Tư.
Những kết quả đó cho thấy truyền thống của hai miền đất học đang được tiếp nối trong một không gian giáo dục thống nhất. Đáng chú ý, lễ xuất quân các đội tuyển học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026 được tổ chức tại Văn Miếu Bắc Ninh, với sự hiện diện của học sinh Trường THPT Chuyên Bắc Ninh, Trường THPT Chuyên Bắc Giang và Trường THPT Sơn Động số 1. Trước những tấm bia ghi danh tiền nhân, các em cùng bước vào một hành trình mới, nơi sự “đăng khoa” không còn nhằm tìm kiếm chức vị mà hướng đến làm chủ tri thức và đóng góp cho đất nước.

Học sinh tiêu biểu của tỉnh dâng hương, báo công tại Văn Miếu Bắc Ninh.

Học sinh tiêu biểu của tỉnh dâng hương, báo công tại Văn Miếu Bắc Ninh.

Trong bối cảnh Bắc Ninh có quy mô công nghiệp và kinh tế thuộc nhóm dẫn đầu cả nước, giáo dục càng giữ vai trò quyết định. Tỉnh cần nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành điện tử, bán dẫn, công nghệ thông tin, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp văn hóa, y tế và dịch vụ. Lợi thế về vị trí, hạ tầng và vốn đầu tư chỉ có thể chuyển hóa thành sức phát triển bền vững khi đi cùng chất lượng con người. Giáo dục mũi nhọn cần tiếp tục được đầu tư nhưng phải gắn với nâng cao chất lượng đại trà và bảo đảm cơ hội học tập công bằng. Sau hợp nhất, địa bàn tỉnh trải rộng từ vùng đô thị, công nghiệp đến nông thôn, miền núi. Việc thu hẹp khoảng cách về trường lớp, thiết bị, công nghệ và đội ngũ giáo viên giữa các khu vực phải được xem là một yêu cầu có tính chiến lược. Con em công nhân, người lao động nhập cư, học sinh có hoàn cảnh khó khăn và học sinh ở xa trung tâm đều cần được tiếp cận một nền giáo dục có chất lượng.
Văn Miếu Bắc Ninh nên được phát huy như điểm trung tâm trong mạng lưới di sản khoa bảng của tỉnh mới. Từ đây có thể kết nối các hành trình giáo dục: Văn Miếu - quê hương Lê Văn Thịnh - làng tiến sĩ Kim Đôi; Văn Miếu - Tam Sơn - Hoài Thượng; hoặc Văn Miếu - đền thờ Thân Nhân Trung - di tích họ Đào tại Song Khê - quê hương Trạng nguyên Giáp Hải. Những tuyến này không chỉ giới thiệu danh nhân mà phải làm rõ môi trường gia đình, dòng họ và làng xã đã nuôi dưỡng họ. Cùng với đó là nhiệm vụ bảo vệ tư liệu tại các dòng họ. Nhiều gia phả, sắc phong, văn bia và sách Hán - Nôm đang xuống cấp hoặc chưa được nghiên cứu đầy đủ. Cơ quan chuyên môn cần phối hợp với cộng đồng để kiểm kê, hướng dẫn bảo quản, phiên âm, dịch nghĩa và tạo bản sao số. Dòng họ là chủ thể nắm giữ di sản; mọi hoạt động bảo tồn vì thế phải tôn trọng quyền sở hữu, ký ức và sự tham gia của họ.
Sau hợp nhất, Bắc Ninh không chỉ có thêm không gian phát triển và tiềm lực kinh tế. Tỉnh còn quy tụ một nguồn “tài nguyên con người” được bồi đắp qua hàng nghìn năm. Nếu biết chuyển hóa truyền thống hiếu học thành năng lực đổi mới, biến tinh thần trọng dụng nhân tài thành chính sách phát hiện, thu hút và sử dụng con người hiệu quả, Bắc Ninh sẽ có thêm một lợi thế bền vững để vươn lên trong thời đại mới. Trên 12 bia “Kim bảng lưu phương”, tên tuổi 677 vị đại khoa xứ Kinh Bắc vẫn được khắc sâu trong đá. Nhưng bảng vàng của quê hương không khép lại ở quá khứ. Bảng vàng ấy đang được viết tiếp trong từng lớp học, phòng thí nghiệm, nhà máy, trường nghề, làng quê và cộng đồng dân cư của tỉnh Bắc Ninh hôm nay.

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/truyen-thong-khoa-bang-tren-dat-bac-ninh-a34405.html