Ai nuôi EVN?

Nhà nước không thể rút ngân sách ra bù cho một doanh nghiệp đã nhiều lần 'ăn lỗ để ổn định xã hội'. Phương án dễ nhất, cũng là phương án quen thuộc, là để người dân trả hộ. Cái vòng luẩn quẩn 'EVN lỗ – Bộ đề xuất – dân gánh' vẫn là khúc ca quen thuộc.

Hóa đơn tin đin và ni thng tht ca dân

Trưa 5/9, trên fanpage Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) xuất hiện một thông báo khẩn: cảnh báo về hiện tượng “lan truyền thông tin sai sự thật” liên quan đến hóa đơn tiền điện tháng 8/2025.

Thông báo nhấn mạnh: “Thời gian gần đây, nhiều thông tin chưa được kiểm chứng lan truyền, gây hoang mang dư luận và ảnh hưởng đến uy tín ngành điện”. Kèm theo đó là lời khẳng định: đây là hiện tượng lợi dụng tâm lý người dân để thổi phồng, gây hoang mang dư luận, và sẽ bị xử lý nghiêm.

Nghe qua, ai cũng tưởng đang đọc công văn của một cơ quan thực thi luật pháp, chứ không phải thông báo từ một doanh nghiệp dịch vụ sống nhờ khách hàng.

Tôi tự hỏi: có doanh nghiệp nào ứng xử với khách hàng như vậy? Khi khách hàng chưa hài lòng, thậm chí phản đối chất lượng dịch vụ, điều doanh nghiệp cần làm là giải thích, chăm sóc, thuyết phục. Nhưng EVN lại chọn cách dọa “xử lý”.

Hóa đơn điện tháng 8 của nhà tôi tăng 30% so với tháng 7, chính tôi băn khoăn mà không biết hỏi ai. May là tôi không đăng lên mạng xã hội, nếu không cũng có thể bị coi là “lợi dụng”. Mà không chỉ tôi: Theo Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Nguyễn Xuân Nam, khoảng 3,2 triệu/31,8 triệu hộ khách hàng sinh hoạt, chiếm hơn 10% tổng khách hàng, có sản lượng điện tăng cao hơn 30% so với tháng 7. Tới 3,2 triệu hộ thì đâu phải chuyện nhỏ nữa?

EVN vốn luôn được ca ngợi là doanh nghiệp tiên phong ứng dụng công nghệ thông tin, thậm chí có tham vọng đi đầu về trí tuệ nhân tạo. Nhưng cách duy nhất họ làm trong trường hợp này lại là một giải pháp thủ công và cổ điển: cử nhân viên đến tận nhà, kiểm tra công tơ, đo lại điện. Vậy dữ liệu công tơ điện tử, hệ thống quản lý tiêu thụ điện theo giờ, theo ngày, có thể phát hiện ngay khi hộ gia đình nào đó có biến động bất thường đang ở đâu?

Đại biểu Quốc hội Phan Đức Hiếu, Ủy viên Ủy ban Kinh tế, đã nói rất trúng: EVN hoàn toàn có thể làm tốt hơn. Với công tơ điện tử và công nghệ phân tích dữ liệu, nếu phát hiện một hộ gia đình có mức tiêu thụ điện tăng vọt trong 1–2 ngày, EVN hoàn toàn có thể gửi cảnh báo tức thì. Giống như dự báo thời tiết, ngành điện có thể định kỳ thông báo khu vực nào tiêu thụ điện tăng cao, dự báo nếu xu hướng này kéo dài thì hóa đơn tháng sẽ tăng bao nhiêu. Người dân nhờ vậy có phương án tiết kiệm, còn EVN chủ động hơn trong quản lý phụ tải. Đó mới là cách tiếp cận “win–win”, văn minh và hợp thời.

Câu chuyện hóa đơn điện cho thấy, EVN không chỉ gặp vấn đề ở tài chính, mà còn cả trong tư duy quản trị và chăm sóc khách hàng. Nhưng tài chính mới là gốc rễ của câu hỏi: Ai nuôi EVN?

Khon l gn 45.000 tđồng

Bộ Công Thương mới đây đề xuất sửa Nghị định 72, cho phép EVN phân bổ vào giá điện những khoản chi phí sản xuất, cung ứng chưa được bù đắp từ năm 2022 đến nay. Con số đó tương ứng với khoản lỗ khổng lồ: 44.792 tỷ đồng tính tới cuối năm ngoái.

Các bộ, ngành được lấy ý kiến đều không phản đối, chỉ yêu cầu EVN công khai, minh bạch các khoản lỗ.

EVN đã lên tiếng giải trình: thua lỗ không chỉ vì một nguyên nhân đơn lẻ, mà là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố – giá nhiên liệu tăng sốc do biến động quốc tế; thủy điện giảm sản lượng vì thời tiết bất lợi; chính sách bán điện dưới giá thành kéo dài để giữ ổn định kinh tế – xã hội; gánh nặng cấp điện cho vùng sâu vùng xa và hỗ trợ khách hàng trong dịch Covid-19; cộng thêm các khoản chi phí chưa được tính đủ vào giá điện.

Đó là bức tranh quen thuộc: EVN vừa gánh chi phí thị trường, vừa gánh trách nhiệm xã hội. Nhưng nói cho thẳng, kịch bản này đã lặp lại hàng chục năm qua. Cuối cùng, mọi chi phí đều được “điều tiết” sang hóa đơn tiền điện. 45.000 tỷ đồng này khó mà thoát quy luật ấy.

Nhà nước không thể rút ngân sách ra bù cho một doanh nghiệp đã nhiều lần “ăn lỗ để ổn định xã hội”. Phương án dễ nhất, cũng là phương án quen thuộc, là để người dân trả hộ. Cái vòng luẩn quẩn “EVN lỗ – Bộ đề xuất – dân gánh” vẫn là khúc ca quen thuộc.

Cái giá ca đin r

Nói gì thì nói, không thể phủ nhận EVN đã giữ vai trò tối quan trọng trong cung ứng điện cho nền kinh tế và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Trong nhiều năm, họ đã hoàn thành tương đối tốt nhiệm vụ này.

Những cải cách mà EVN thực hiện, đặc biệt là trong tiếp cận điện năng, từng giúp Việt Nam thăng hạng trong các báo cáo Môi trường Kinh doanh của Ngân hàng Thế giới.

Giá điện ở Việt Nam thuộc nhóm thấp trong khu vực: chỉ 7,8 cents/kWh giai đoạn 2023–2025, thấp hơn nhiều nước Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines hay Singapore.

Nhưng cái giá của “điện rẻ” chính là thua lỗ. Việt Nam phải nhập khẩu gần như toàn bộ công nghệ, thiết bị, nhiên liệu với giá thế giới. Nhập khẩu giá cao, bán giá thấp – tình trạng bán điện dưới giá thành kéo dài. Chưa kể gánh nặng cấp điện cho hải đảo, vùng sâu, vùng xa: tại Phú Quý, Côn Đảo, Bạch Long Vĩ, giá thành 7.000–12.000 đồng/kWh nhưng giá bán chỉ khoảng 2.000 đồng/kWh, khiến EVN lỗ hàng trăm tỷ mỗi năm.

Nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường là bán phải cao hơn mua. Nhưng với EVN, điều ngược lại đã kéo dài nhiều năm. Giá than, khí, dầu nhập khẩu tăng, trong khi giá bán lẻ bị kìm hãm bởi cơ chế hành chính. Chính sách mua điện tái tạo theo giá FIT ưu đãi, vốn khuyến khích đầu tư xanh, cũng biến thành gánh nặng. EVN còn đối diện với nợ phải thu lớn, dòng tiền căng thẳng, nghĩa vụ trả nợ vay cao, bộ máy cồng kềnh. Biến động tỷ giá lại khiến chi phí nhập khẩu và trả nợ ngoại tệ đội thêm hàng chục nghìn tỷ đồng.

Khoản lỗ của EVN không chỉ đến từ quản trị, mà quan trọng hơn là từ cơ chế giá bị trói chặt. Nó vừa hao mòn vốn Nhà nước, vừa triệt tiêu động lực đầu tư mới.

Chủ tịch Hội Thẩm định giá Việt Nam, ông Nguyễn Tiến Thỏa, đã nói rõ: “Giá điện phải được thực hiện đúng nguyên tắc: đảm bảo bù đắp chi phí sản xuất, tính đúng, tính đủ chi phí hợp lý, kèm mức lợi nhuận cần thiết để tái sản xuất. Nếu do doanh nghiệp làm ăn yếu kém thì phải tự chịu, chứ không thể bắt xã hội gánh thay”.

Ci cách th trường đintđộc quyn sang cnh tranh

Trong nhiều năm, thị trường điện Việt Nam vận hành theo mô hình bán buôn tập trung, với EVN là “người mua duy nhất”. Cơ chế này dễ quản lý, nhưng bất cập: thiếu minh bạch về giá, hạn chế quyền lựa chọn của khách hàng, tạo ra đặc quyền, thậm chí tiêu cực trong quản lý.

Ngành điện vẫn được coi là “độc quyền tự nhiên”: người tiêu dùng không có lựa chọn nào khác ngoài EVN và các công ty thành viên. Chính vì vậy, Chính phủ luôn thận trọng khi điều chỉnh giá điện. Thủ tướng từng thẳng thắn: ngành điện chưa có thị trường cạnh tranh đúng nghĩa.

Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị mới đây đã đặt ra mục tiêu: phát triển thị trường điện cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, đồng bộ với bảo đảm an ninh năng lượng. Đặc biệt, nghị quyết nhấn mạnh việc triển khai cơ chế mua bán điện trực tiếp, tăng cường quyền lựa chọn của khách hàng. Mục tiêu cuối cùng: “chuyển từ độc quyền sang thị trường cạnh tranh” bằng những đột phá về chế độ, chính sách, quản trị.

Hy vọng Nghị quyết 70 sẽ chấm dứt tình trạng “xã hội hóa lỗ” – tức gộp những khoản lỗ quá khứ vào giá điện hiện tại. Trong kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải tự gánh rủi ro kinh doanh. Nếu mọi khoản lỗ đều được xã hội gánh, động lực tiết kiệm chi phí, cải thiện quản trị và minh bạch hóa hoạt động của EVN sẽ ra sao?

Trở lại câu hỏi ban đầu: Ai nuôi EVN? Người dân, doanh nghiệp, hay Nhà nước?

Thực tế nhiều năm qua, cuối cùng vẫn là người dân và doanh nghiệp cõng trên vai cả chi phí lẫn rủi ro của ngành điện. Mỗi hóa đơn tăng, mỗi lần EVN kêu lỗ, đều dẫn đến cùng một hệ quả: giá điện tăng hoặc chi phí gián tiếp đè lên xã hội.

Nếu không thay đổi triệt để, không thật sự để thị trường vận hành, mọi nghị quyết sẽ chỉ dừng ở khẩu hiệu. Và cái vòng luẩn quẩn “EVN lỗ – Bộ đề xuất – dân gánh” sẽ còn lặp lại mãi.

Hoàng Tư Giang

Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/ai-nuoi-evn-237363.html