Xuân Thủy lặng xanh
Tại cửa Ba Lạt (Ninh Bình), nơi dòng sông Hồng hòa vào Biển Đông, khi con nước vừa rút xuống lúc sáng sớm, những dải bãi bồi đẫm phù sa mềm mướt dần lộ ra. Mùi gió biển mặn mòi quyện với bùn non, chỉ cần thoảng qua cũng đủ gợi nhớ rất lâu.

Tuyến đường di cư của chim nước quốc tế thuộc hành lang bay Đông Á-Úc châu. (Ảnh: VŨ ĐẠT)
Không gian tĩnh lặng đến mức có thể nghe thấy tiếng nước chảy, hay tiếng động khe khẽ của những sinh vật nhỏ đang tìm đường trở lại lòng nước.
Ở khoảnh khắc tĩnh lặng ấy, điều kỳ lạ là ai cũng cảm nhận rõ nhất sự chuyển động. Vùng đất này không đứng yên, mà từng giây từng phút thay đổi không ngừng.
Nơi đất sinh ra từ nước
Từ những cánh rừng sú vẹt âm thầm giữ đất, đến cuộc mưu sinh của người dân theo nhịp thủy triều, Vườn quốc gia Xuân Thủy là một không gian sinh thái đặc biệt, song cũng đang đặt ra những bài toán lớn về phát triển.
Khi Nghị quyết số 16- NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về “Chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được triển khai, cùng với việc khu vực này được công nhận là Vườn di sản Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), câu chuyện đánh thức giá trị xanh không còn là khái niệm mơ hồ, mà trở thành một yêu cầu thực tiễn.
Chúng tôi đến cửa Ba Lạt khi mặt trời vừa ló rạng, ánh nắng buổi sớm phủ lên bãi bồi một lớp vàng nhạt, đủ để nhìn rõ từng vệt bùn còn ướt.
Ở đây, đất không phải là thứ có sẵn, đất được sinh ra từng ngày, từ phù sa của các con sông đổ về. Có những chỗ chỉ dăm năm trước còn là lòng nước sâu, nay đã thành bãi. Nhưng cũng có nơi vừa kịp hình thành đã bị xói lở.
Sự tồn tại của vùng đất này vì thế luôn đi cùng biến động. Rừng sú vẹt đứng đó, không cao lớn nhưng luôn xanh và bền bỉ. Những bộ rễ cắm sâu xuống bùn, đan vào nhau giữ lại từng hạt phù sa.
Người dân vẫn nói còn rừng thì còn đất, giản dị nhưng phản ánh đúng quy luật sinh thái. Bãi bồi liên tục được vun đắp, những cồn cát như Cồn Lu, Cồn Mờ vẫn ngày ngày như tấm lá chắn cho đất liền trước sự tấn công của biến đổi khí hậu.
Đây cũng là điểm tựa về sinh kế cho hàng nghìn hộ dân khai thác hải sản, nuôi tôm truyền thống và gần đây là các mô hình du lịch sinh thái cộng đồng.
Ngừng tay thả lưới, phóng tầm mắt quan sát không gian chung quanh bãi bồi, ông Vũ Văn Tuyến, người đã hơn 20 năm gắn bó với nghề đánh cá chia sẻ: “Tuy thu nhập không cao, nhưng bao năm qua, vợ chồng tôi vẫn theo nghề đánh cá thủ công truyền thống. Gia đình tôi muốn được gắn bó, góp công sức bé nhỏ bảo vệ từng gốc sú vẹt nơi đây”.
Cách đó không xa, trong cánh rừng bạt ngàn sú vẹt đang mùa đơm hoa, ông Mai Văn Thành cho biết: “Mùa hoa năm nay, gia đình tôi nuôi gần 400 bọng ong dưới tán rừng. Ong lấy mật từ hoa tự nhiên, không hóa chất, nên sản phẩm được thị trường ưa chuộng, thu nhập ổn định hơn so với trước”.
Trong câu chuyện, cả ông Tuyến với ông Thành đều có sự tự hào không che giấu khi nói đến rừng sú vẹt quê hương.
Theo các ông, muốn có tôm cá, mật ong, người dân phải giữ rừng, vì rừng còn thì tôm cá, bướm ong mới còn, người làm nghề mới gắn bó được lâu dài.
Phó Giám đốc Ban Quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy Vũ Quốc Đạt cho biết, việc gắn bảo tồn với sinh kế đang là hướng đi xuyên suốt của đơn vị, bởi nếu người dân không có thu nhập từ hệ sinh thái thì rất khó bảo vệ lâu dài.
Vì thế, các mô hình như nuôi ong, nuôi thủy sản sinh thái, phát triển du lịch cộng đồng đang từng bước được khuyến khích, nhằm tạo ra sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế và bảo tồn thiên nhiên.
Từ tiềm năng đến hướng đi bền vững
Với diện tích hơn 7.000ha, khu vực Vườn quốc gia Xuân Thủy gồm hệ thống bãi bồi, cồn cát, rừng ngập mặn và các lạch triều đan xen, tạo nên cảnh quan sinh thái đặc trưng của vùng ven biển Đồng bằng Bắc Bộ.
Với sự bồi tụ tự nhiên hàng trăm năm, khu vực Xuân Thủy hình thành nhiều dạng sinh cảnh đặc thù như bãi triều có rừng ngập mặn, bãi triều lầy không có rừng, hệ thống sông nhánh và các cồn nổi như Cồn Lu, Cồn Xanh.
Sự đa dạng về sinh cảnh đã tạo điều kiện cho nhiều loài sinh vật sinh trưởng, phát triển và hình thành hệ sinh thái đất ngập nước phong phú. Hiện vườn có hơn 200 loài thực vật có mạch, hàng trăm loài động vật nổi, động vật không xương sống, cùng hơn 150 loài cá sinh sống trong hệ thống bãi triều và vùng cửa sông.
Mới đây, ngày 22/3, tại xã Giao Minh (Ninh Bình), Ban Quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy đón nhận danh hiệu Vườn di sản ASEAN, đánh dấu bước phát triển mới của khu vực này trong mạng lưới bảo tồn khu vực.
Vườn được thành lập nhằm bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước vùng cửa sông ven biển, là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng và là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam.
Đáng chú ý, với vị trí nằm trên tuyến đường di cư của chim nước quốc tế thuộc hành lang bay Đông Á-Úc châu, nơi đây hội tụ hàng trăm loài chim, trong đó có nhiều loài quý hiếm, có giá trị bảo tồn toàn cầu.
Nghị quyết số 16-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình xác định phát triển kinh tế biển gắn với bảo tồn, từng bước hình thành vùng ven biển trở thành cực tăng trưởng mới.
Đồng chí Trần Song Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhấn mạnh, phát triển kinh tế biển phải đặt trên nền tảng bảo vệ môi trường, không đánh đổi tài nguyên lấy tăng trưởng ngắn hạn, trong đó những hệ sinh thái như rừng ngập mặn cần được giữ gìn như một nguồn lực lâu dài.
Theo định hướng này, Xuân Thủy sẽ phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững, khai thác hợp lý cảnh quan, gắn với sinh kế của cộng đồng địa phương, từng bước hình thành các mô hình kinh tế xanh.
Giữ rừng, giữ nước, giữ đất cũng chính là giữ tương lai, để giá trị xanh sẽ là động lực cho kinh tế vùng ven biển Ninh Bình cũng như nhiều địa phương khác.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/xuan-thuy-lang-xanh-post958310.html











