Sáng tạo liên ngành, kết nối truyền thống - hiện đại
Toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống xã hội đang đặt di sản văn hóa truyền thống trước thách thức mang tính sống còn: thích nghi hay bị lãng quên? Trong bối cảnh đó, sự kết hợp giữa các loại hình nghệ thuật là hướng đi đầy tiềm năng.
Thức cùng di sản - “Xiếc họa Đông Hồ”
Đã từ lâu, tranh dân gian Đông Hồ in sâu trong tâm thức người Việt với màu giấy điệp lấp lánh, những nét khắc gỗ mộc mạc mô tả cảnh sinh hoạt bình dị của làng quê Bắc Bộ. Lần đầu tiên, công chúng được chứng kiến cảnh tượng trong tranh Đông Hồ bước ra khỏi mặt giấy tĩnh lặng, hiện diện sinh động bằng hình thể, chuyển động và kỹ thuật điêu luyện của nghệ thuật xiếc.
Đó là sự kiện văn hóa - nghệ thuật Xiếc họa Đông Hồ, diễn ra ngày 27/12/2025 tại Rạp xiếc Trung ương, nằm trong khuôn khổ dự án Thức cùng di sản, do Khoa Truyền thông và Văn hóa Đối ngoại, Học viện Ngoại giao, tổ chức. Ngay từ phút mở màn, không gian văn hóa Bắc Bộ đã được tái hiện đầy trữ tình qua tiết mục Đu Quan họ của NSƯT Thu Hương và NSƯT Thanh Tuấn. Những nhịp đu bay bổng hòa quyện cùng làn điệu dân ca đưa người xem trở về với nhịp sống yên bình của làng quê xưa.

Trích đoạn trong sự kiện "Xiếc họa Đông Hồ", tái hiện khung cảnh lễ hội trên tranh dân gian Đông Hồ Ảnh: BTC
Ở phần trình diễn Chuyện nhà Tí, ngôn ngữ xiếc đóng vai trò chủ đạo kể câu chuyện về dòng tranh dân gian. Những bức tranh kinh điển như Rước Rồng, Đánh đu, Đám cưới chuột, Vinh quy bái tổ... tái hiện qua kỹ thuật nhào lộn, thăng bằng, tung hứng.
Theo Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam, NSND Tống Toàn Thắng, việc sử dụng ngôn ngữ xiếc để tái hiện vẻ đẹp của di sản tranh Đông Hồ là một cách tiếp cận sáng tạo, nhằm đưa giá trị truyền thống đến gần hơn với công chúng đương đại.
"Xiếc là ngôn ngữ hình thể, có khả năng kể chuyện bằng chuyển động, nhịp điệu và không gian sân khấu. Khi kết hợp với mỹ cảm dân gian của tranh Đông Hồ, nghệ thuật xiếc giúp di sản sống lại sinh động, trực quan, tạo sự hứng thú cho lớp khán giả trẻ, đồng thời mở ra hướng đi mới cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống", NSND Tống Toàn Thắng nhận định.
Theo Trưởng Ban tổ chức dự án Thức cùng di sản Nguyễn Tất Đạt, ý tưởng thực hiện chương trình xuất phát từ mong muốn tìm cách tiếp cận mới để đưa tranh dân gian Đông Hồ đến gần hơn với công chúng hôm nay. Sự kiện mang ý nghĩa đặc biệt khi Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp ngày 9/12/2025.
"Từ trải nghiệm trực tiếp về làng tranh, trò chuyện cùng các nghệ nhân, chúng tôi nhận ra rằng, di sản không thiếu giá trị, mà đang thiếu “cánh cửa” phù hợp để người đương đại bước vào. Chính vì vậy, việc kết hợp tranh Đông Hồ với ngôn ngữ xiếc đương đại được lựa chọn như một cách kể mới, trực quan, giàu cảm xúc và dễ tiếp cận, nhằm tạo ra điểm chạm ban đầu cho khán giả", anh Nguyễn Tất Đạt phân tích.
Truyền thống sánh bước cùng thời đại
Câu chuyện của Xiếc họa Đông Hồ không chỉ dừng lại ở thành công của một đêm diễn thử nghiệm, mà đặt ra vấn đề lớn hơn, mang tính thời sự về bảo tồn di sản trong bối cảnh mới. Bởi lẽ thực tế nhiều năm qua, tư duy bảo tồn thường thiên về "bảo tàng hóa", tức là cố gắng giữ nguyên trạng. Cách làm này là cần thiết để giá trị di sản được giữ gìn nguyên vẹn song vô tình đẩy di sản vào trạng thái "đóng băng". Với dự án Thức cùng di sản, nhóm thực hiện đã đề xuất một hướng đi khác: đối thoại liên ngành, gợi mở hướng đi mới để di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại.
Theo anh Nguyễn Tất Đạt, dự án không đặt tham vọng tái hiện trọn vẹn hay thay thế giá trị truyền thống, mà mong trở thành một sự gợi mở, khơi dậy sự tò mò, tình yêu và nhu cầu tìm hiểu sâu hơn giá trị tranh Đông Hồ nói riêng, di sản truyền thống nói chung của công chúng, đặc biệt là người trẻ và du khách quốc tế. "Sự kết hợp di sản và nghệ thuật mang thông điệp di sản không chỉ để trưng bày hay lưu giữ trong ký ức, mà hoàn toàn có thể được làm mới, tiếp tục kể lại và sống cùng đời sống hôm nay".
Trong hành trình đối thoại ấy, sự kết nối giữa nghệ nhân và nghệ sĩ trên sân khấu chính là hình ảnh biểu tượng cho sự chuyển giao thế hệ và tiếp biến văn hóa. NNƯT Nguyễn Hữu Quả chia sẻ, khi tranh Đông Hồ được UNESCO đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, điều mong ước đối với lớp nghệ nhân cả đời gắn bó với nghệ thuật truyền thống này là hệ giá trị của dòng tranh cần được tiếp nối.
"Có điều, khi không gian sống thay đổi, làng quê truyền thống dần nhường chỗ cho đô thị, di sản cũng bị tách khỏi môi trường tự nhiên của nó. Tranh vẫn còn đó, kỹ thuật in tranh vẫn được gìn giữ, nhưng mạch sống gắn với cộng đồng ngày càng mờ nhạt. Giờ đây, sự phối hợp với sáng tạo nghệ thuật thêm sợi dây kết nối giữa truyền thống và hiện đại. Điều đó mang lại niềm tự hào, tin tưởng và động viên rất lớn đối với những người làm nghề truyền thống như chúng tôi”, NNƯT Nguyễn Hữu Quả bộc bạch.
Rõ ràng, khi không gian thử nghiệm, sáng tạo mở ra, công chúng được trải nghiệm, chạm vào di sản, vấn đề bảo tồn truyền thống không còn là câu chuyện lưu giữ quá khứ mà mở lối phát triển văn hóa dân tộc. Những nỗ lực tìm kiếm hướng tiếp cận mới bằng cách phá vỡ những rào cản vô hình giữa các loại hình nghệ thuật, là cách để di sản bước ra khỏi vùng an toàn, "thức giấc" và trường tồn.
Như lời Phó Trưởng Khoa Công nghiệp văn hóa và di sản, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, TS. Mai Thị Hạnh: "Bảo tồn di sản cần gắn với sáng tạo, tiếp tục tạo ra giá trị cho con người. Nói cách khác, bảo tồn không chỉ là lưu giữ nguyên trạng, mà còn là quá trình tái sinh, trong đó sáng tạo đóng vai trò như cầu nối giữa quá khứ và hiện tại".











