Nguồn tài nguyên chiến lược giúp phát triển du lịch

Không chỉ mở ra không gian để mỗi người được tìm về nguồn cội, 'chạm' vào những giá trị lịch sử-văn hóa đặc sắc, mà các lễ hội đang cho thấy tiềm năng, thế mạnh, trở thành nguồn tài nguyên chiến lược giúp thúc đẩy du lịch, góp phần phát triển kinh tế địa phương.

Du khách trảy hội chùa Hương. (Ảnh: LÊ PHÚ)

Du khách trảy hội chùa Hương. (Ảnh: LÊ PHÚ)

Hòa trong sắc Xuân rực rỡ, các lễ hội truyền thống đang rộn ràng diễn ra tại nhiều vùng, miền trên cả nước. Không chỉ mở ra không gian để mỗi người được tìm về nguồn cội, "chạm" vào những giá trị lịch sử-văn hóa đặc sắc, mà các lễ hội đang cho thấy tiềm năng, thế mạnh, trở thành nguồn tài nguyên chiến lược giúp thúc đẩy du lịch, góp phần phát triển kinh tế địa phương.

Diễn ra từ ngày 18/2 đến 11/5, Lễ hội chùa Hương (Hà Nội) đang thu hút lượng khách khá đông đảo. Trong ngày khai hội (mồng 6 tháng Giêng), mặc dù thời tiết mưa rét, vẫn có hàng chục nghìn lượt khách đổ về đây. Trước đó, từ mồng 1 đến mồng 5 tháng Giêng, chùa Hương đón gần 136.000 lượt khách, tăng 138% so với cùng kỳ năm 2025. Lễ hội Gióng đền Sóc (Hà Nội) cũng ghi nhận lượng khách tăng đáng kể, với hơn 45.000 lượt người tham dự trong 3 ngày chính hội (từ ngày 22 đến 24/2, tức mồng 6 đến mồng 8 tháng Giêng). Tại Quảng Ninh, Khu di tích và danh thắng Yên Tử đón hơn 60.000 lượt khách đến hành hương, du Xuân sau 3 ngày khai hội (từ mồng 10 tháng Giêng). Bước sang năm thứ hai được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (An Giang) cũng dự kiến sẽ đón hàng triệu lượt khách…

Đây là những con số “biết nói” cho thấy lễ hội ngày càng khẳng định được sức hút, đóng góp lớn vào tăng trưởng lượng khách và doanh thu điểm đến. Làm nên sức hút này, bên cạnh nỗ lực đổi mới phương thức tổ chức lễ hội theo hướng trang trọng, bài bản, văn minh, còn có sự thay đổi trong tư duy của những người làm văn hóa địa phương, coi lễ hội không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là sản phẩm du lịch văn hóa hút khách.

Đáng chú ý, các tour khám phá di sản, các trải nghiệm tương tác ngày càng được nhiều điểm đến quan tâm, đưa vào vận hành trong lễ hội. Tiêu biểu như tại Lễ hội mùa Xuân Côn Sơn, Kiếp Bạc 2026, cùng với nhiều hoạt động như lễ rước nước, hội thi gói bánh chưng, giã bánh dày, các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân gian…, còn có ba tour trọng điểm được nâng cấp, khai thác, gồm: Khám phá Di sản Côn Sơn, Kiếp Bạc; Theo dấu chân Tam Tổ Trúc Lâm và Một hành trình - Năm điểm đến di sản thế giới, góp phần gia tăng mạnh mẽ lượng khách đến với điểm di tích này. Chỉ tính từ ngày 26/2 đến 8/3 (tức mồng 10 đến 20 tháng Giêng), Khu di sản văn hóa thế giới Côn Sơn - Kiếp Bạc đã đón gần 138.000 lượt khách, tăng 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Tại Lễ hội Gióng đền Sóc năm nay, ban tổ chức lần đầu giới thiệu tour đêm đền Sóc và chương trình nghệ thuật đặc biệt “Đêm linh thiêng - Hào khí Thánh Gióng”. Tại Lễ hội đền Hùng sắp tới, cùng với các hoạt động như trình diễn hát xoan làng cổ, Hội sách đất Tổ…, chương trình tour đêm “Đền Hùng linh thiêng nguồn cội” cũng được coi là điểm nhấn đặc sắc thu hút khách.

Rõ ràng, tại nhiều địa phương, lễ hội không còn là sinh hoạt văn hóa đơn thuần mà đang trở thành nguồn lực thúc đẩy kinh tế di sản thông qua du lịch. Nhờ đó, các giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội có thêm cơ hội được gìn giữ, lan tỏa trong dòng chảy cuộc sống đương đại. Đồng thời, cũng chính những sắc màu văn hóa truyền thống ấy góp phần tạo nên điểm nhấn, gia tăng sức hút cho du lịch địa phương.

Theo Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism), du lịch lễ hội đang đóng góp hơn 50 tỷ USD mỗi năm cho các nền kinh tế châu Á và hơn 200 tỷ USD trên toàn thế giới. Với hơn 8.000 lễ hội, trong đó phần lớn là lễ hội truyền thống gắn với hệ thống di tích đồ sộ và những lớp di sản văn hóa lâu đời, Việt Nam sở hữu tiềm năng dồi dào để phát triển du lịch lễ hội. Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã xác định cần ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa gắn với di sản, lễ hội. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng đề cập nhiệm vụ bảo tồn lễ hội truyền thống và định hướng phát triển các lễ hội mới nhằm phát huy bản sắc văn hóa, gắn với du lịch và phát triển kinh tế. Điều này có nghĩa phát triển du lịch lễ hội không chỉ là nhu cầu của thị trường mà còn là định hướng quan trọng để phát triển văn hóa và kinh tế đất nước.

Theo Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism), du lịch lễ hội đang đóng góp hơn 50 tỷ USD mỗi năm cho các nền kinh tế châu Á và hơn 200 tỷ USD trên toàn thế giới. Với hơn 8.000 lễ hội, trong đó phần lớn là lễ hội truyền thống gắn với hệ thống di tích đồ sộ và những lớp di sản văn hóa lâu đời, Việt Nam sở hữu tiềm năng dồi dào để phát triển du lịch lễ hội.

Thời gian qua, một số lễ hội đã được đa dạng hóa hoạt động, bước đầu phát huy hiệu quả trong gia tăng lượng khách. Nhưng nhìn chung, đây chỉ là số ít, phần lớn vẫn còn thiếu chiều sâu, điểm nhấn, dẫn đến việc tiếp cận đầy đủ các giá trị của lễ hội bị hạn chế. Hơn nữa, tại nhiều nơi, tình trạng quá tải, ùn tắc thường xuyên diễn ra trong những ngày khai hội, trong khi tại các thời điểm khác lại không có khách. Hệ sinh thái sản phẩm du lịch lễ hội nhìn chung còn nghèo nàn, chưa thu hút du khách lưu trú để tạo nguồn thu lớn cho du lịch địa phương…

Theo Giám đốc Vietsense Travel Nguyễn Văn Tài, để du lịch lễ hội phát triển hiệu quả, thay vì đầu tư dàn trải, thiếu quy hoạch, cần có sự sàng lọc trên diện rộng để phân loại, lựa chọn những lễ hội có giá trị tiêu biểu, nổi trội, có khả năng kết nối du lịch để tập trung đầu tư sâu về cả quy mô, cách thức tổ chức và truyền thông. Bởi trên thực tế, mặc dù nước ta có hàng nghìn lễ hội nhưng không phải lễ hội nào cũng có thể trở thành sản phẩm du lịch. Nếu phát triển theo kiểu cào bằng, sẽ không chỉ dẫn đến tình trạng đầu tư nửa vời, kém hiệu quả, mà còn gây lãng phí tài nguyên, nguồn lực. Ông Tài cũng lưu ý, để gia tăng sức hấp dẫn cho du lịch lễ hội, không nên coi lễ hội là yếu tố cốt lõi duy nhất, mà cần coi là chất xúc tác để thu hút khách tới điểm đến vào thời gian nhất định. Từ đó, kết nối lễ hội với các tài nguyên khác để hình thành một luồng tuyến du lịch trọn vẹn, với chuỗi dịch vụ vệ tinh gồm đầy đủ các yếu tố vui chơi giải trí, ẩm thực, nghỉ dưỡng, check-in… để giữ chân, kéo dài thời gian lưu trú của khách.

Ở góc độ nghiên cứu du lịch, Viện trưởng Viện phát triển du lịch châu Á Phạm Hải Quỳnh cho rằng, một trong những “điểm nghẽn” lớn nhất là nhiều lễ hội hiện nay đang rơi vào tình trạng “đồng dạng”, thiếu bản sắc riêng biệt để nhận diện. Chúng ta mới chỉ tổ chức phần “lễ” và phần “hội” theo lối mòn mà chưa biết cách “kể” những câu chuyện văn hóa-lịch sử hấp dẫn để chạm đến cảm xúc của du khách, nhất là khách quốc tế. Do đó, cần thay đổi tư duy từ “quản lý hành chính” sang “quản trị trải nghiệm du khách”, tạo ra những hoạt động tương tác, ứng dụng công nghệ như mã QR, thực tế ảo… để du khách có thể chủ động tìm hiểu về ý nghĩa, giá trị lễ hội, thật sự trở thành một phần của không gian lễ hội.

Ông Quỳnh cũng cho rằng, việc sáp nhập địa giới hành chính đang mở ra cơ hội lớn để kết nối không gian di sản, tập trung nguồn lực, tạo điều kiện hình thành các vùng văn hóa đặc trưng, các tour du lịch chuyên đề gắn kết lễ hội và những tài nguyên đa dạng của tỉnh, thành phố, qua đó nâng cao sức hấp dẫn, năng lực cạnh tranh du lịch. Thêm nữa, cho dù tính mùa vụ là đặc trưng của lễ hội truyền thống, nhưng sức sống của lễ hội vẫn có thể được kéo dài bằng cách xây dựng những không gian trải nghiệm di sản, gắn với du lịch nghỉ dưỡng, làng nghề, ẩm thực,... làm cho lễ hội trở thành sản phẩm văn hóa-du lịch hoạt động quanh năm. Đây là hướng đi cần thiết để lễ hội không những được bảo tồn mà còn trở thành động lực phát triển kinh tế theo hướng bền vững.

TRANG ANH

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/nguon-tai-nguyen-chien-luoc-giup-phat-trien-du-lich-post948091.html