Mở rộng mục tiêu bao phủ vùng đồng bào dân tộc
ĐBP - Sau 5 năm triển khai Nghị quyết số 17-NQ/TU về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi gắn với mục tiêu giảm nghèo bền vững (giai đoạn 2021 - 2025), bức tranh kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi tỉnh đã có nhiều chuyển biến rõ nét, tạo nền tảng quan trọng để bước sang giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn, toàn diện hơn. Trên cơ sở kế thừa kết quả đạt được, Nghị quyết số 24-NQ/TU (giai đoạn 2026 - 2030) không chỉ tiếp nối mà còn mở rộng phạm vi, nâng tầm mục tiêu và cách tiếp cận, thể hiện rõ xu hướng bao phủ toàn diện và phát triển bền vững.

Người dân bản Keo Lôm I, xã Na Son được sử dụng nước hợp vệ sinh.
Nghị quyết số 17-NQ/TU, là thời kỳ đặt nền móng, tập trung giải quyết những vấn đề cốt lõi, cấp bách của vùng đồng bào DTTS như giảm nghèo, đầu tư hạ tầng thiết yếu và cải thiện điều kiện sống. Các chỉ tiêu đặt ra mang tính “thoát nghèo, đảm bảo tối thiểu”, thể hiện qua mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 4%/năm trở lên. Về hạ tầng, 70% thôn bản có đường giao thông được cải thiện, trên 85% người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh... Đây là những chỉ tiêu mang tính nền tảng, tập trung vào việc “phủ kín” các dịch vụ thiết yếu tối thiểu cho người dân.
Thực tế triển khai đã đạt những kết quả tích cực, nhất là công tác giảm nghèo. Đến hết năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm còn 23,32% (so với tổng số hộ DTTS 108.642 hộ), tỷ lệ cận nghèo chiếm 16,98%. Hệ thống hạ tầng từng bước được hoàn thiện với 96,9% xã có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 100% trạm y tế đảm bảo điều kiện hoạt động... Đời sống bản sắc văn hóa các dân tộc được chú trọng gìn giữ, với 18/19 dân tộc đã được tổng kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể.
Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ những hạn chế. Kinh tế - xã hội còn chậm và chưa thật sự bền vững, tình trạng tái nghèo cao; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo vẫn ở mức cao; sau sắp xếp còn 38/45 xã và 923 thôn, bản thuộc diện đặc biệt khó khăn. Hạ tầng chưa đồng bộ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ còn hạn chế. Những vấn đề xã hội như tảo hôn, di cư tự do, an ninh trật tự ở vùng đồng bào DTTS, biên giới vẫn tiềm ẩn phức tạp...

Chị Lò Thị Thương, thôn Huổi Lực, xã Tủa Chùa được chương trình phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số hỗ trợ vốn vay để phát triển chăn nuôi.
Chính vì vậy, giai đoạn 2026 - 2030, Nghị quyết số 24-NQ/TU đã mở rộng phạm vi và chiều sâu phát triển. Nếu như giai đoạn trước tập trung vào giảm nghèo và tiếp cận dịch vụ cơ bản thì giai đoạn mới chuyển mạnh sang phát triển toàn diện, bao trùm và bền vững, với trọng tâm là nâng cao thu nhập, chất lượng sống và năng lực tự phát triển của người dân. Sự mở rộng này thể hiện rõ trước hết ở hệ thống mục tiêu như thu nhập bình quân của người dân nông thôn năm 2030 tăng gấp 2,5 - 3 lần so với năm 2020; tỷ lệ nghèo đa chiều giảm 3 - 3,5%/năm, gắn với tiếp cận đa chiều về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin. Ở lĩnh vực hạ tầng, nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là kết nối giao thông cơ bản thì giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra yêu cầu cao hơn: 100% thôn bản có đường ô tô được cứng hóa, đảm bảo đi lại quanh năm; trên 85% số xã có đủ hạ tầng thiết yếu.
Tại xã Nà Bủng có 1.370/1.883 hộ là đồng bào DTTS, trong đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 65,11% và hộ cận nghèo 35,55% - cao nhất toàn tỉnh. Thực tiễn cho thấy, dù nhiều chính sách hỗ trợ đã được triển khai song hiệu quả mang lại vẫn còn hạn chế. Một bộ phận người dân còn tâm lý trông chờ, ỷ lại; việc chuyển đổi phương thức sản xuất, ứng dụng khoa học - kỹ thuật chưa lan tỏa sâu rộng. Nhiều mô hình sinh kế chưa phù hợp với điều kiện thực tế, thiếu liên kết tiêu thụ sản phẩm nên hiệu quả thấp, nguy cơ tái nghèo vẫn luôn hiện hữu.
Theo lãnh đạo UBND xã Nà Bủng, mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 bao phủ khá toàn diện các lĩnh vực. Tuy nhiên, để đi vào thực chất, vấn đề không chỉ nằm ở chính sách mà còn ở cách tổ chức thực hiện phù hợp với đặc thù địa phương. Với một xã vùng cao, biên giới còn nhiều khó khăn như Nà Bủng, việc cụ thể hóa cần theo hướng “đo ni đóng giày”, bám sát từng nhóm đối tượng, từng thôn, bản. Trọng tâm là phát triển sinh kế bền vững gắn với lợi thế địa phương thay vì dàn trải. Đồng thời, ưu tiên giải quyết các “điểm nghẽn” như giao thông, nước sinh hoạt, sinh kế và giáo dục...
Trong lĩnh vực xã hội, phạm vi bao phủ cũng được nâng lên rõ rệt. Nếu giai đoạn trước đặt mục tiêu trên 98% đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế thì giai đoạn mới hướng tới bao phủ y tế toàn dân, đồng thời đặt các chỉ tiêu cụ thể về giảm suy dinh dưỡng trẻ em, nâng cao chất lượng dân số. Về nước sạch, từ mức trên 85% hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, nghị quyết mới nâng lên 100% người dân được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 55% được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn...
Vấn đề nước sạch là một trong những nhu cầu cấp thiết, đặc biệt đối với khu vực vùng cao, biên giới được đặc biệt quan tâm trong giai đoạn trước, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân nên tình trạng thiếu nước vẫn thường xuyên xảy ra tại các xã. Đơn cử tại xã Mường Luân hiện có 58 công trình cấp nước sạch, nước sinh hoạt nông thôn tập trung, song có 11 công trình có nguy cơ thiếu nước và 14 công trình không còn hoạt động, dẫn đến tình trạng thiếu nước sinh hoạt diễn ra thường xuyên, nhất là vào mùa khô.
Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều công trình được đầu tư từ lâu, xuống cấp. Bên cạnh đó, công tác quản lý, vận hành còn hạn chế, thiếu kinh phí duy tu, bảo dưỡng nên nhiều công trình nhanh chóng hư hỏng. Thực tế này cho thấy, để đạt mục tiêu bao phủ nước sạch theo nghị quyết giai đoạn mới, không chỉ dừng ở việc đầu tư xây dựng mà cần chú trọng nâng cao hiệu quả vận hành, có cơ chế quản lý bền vững, đồng thời lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện địa hình, nguồn nước của từng địa bàn, qua đó bảo đảm người dân được tiếp cận nguồn nước ổn định, lâu dài.
Nghị quyết số 24-NQ/TU còn mở rộng về đối tượng và phạm vi tác động. Từ chỗ tập trung vào các xã đặc biệt khó khăn, nghị quyết mới hướng tới phát triển toàn diện vùng đồng bào DTTS và miền núi, đồng thời thu hẹp chênh lệch giữa các nhóm dân cư, các vùng trong tỉnh. Mục tiêu giảm 65% số xã, thôn đặc biệt khó khăn cho thấy phạm vi can thiệp rộng hơn, mang tính bao trùm toàn vùng. Đây không chỉ là con số mang tính định lượng mà còn thể hiện quyết tâm thay đổi diện mạo vùng cao một cách căn bản, hướng tới phát triển đồng đều giữa các khu vực.
Nhìn tổng thể, hai nghị quyết có mối quan hệ kế thừa và phát triển rõ nét. Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021 - 2025 chính là nền tảng để Điện Biên tự tin đặt ra những mục tiêu cao hơn trong giai đoạn tiếp theo. Việc mở rộng phạm vi, nâng cao mức độ bao phủ và hướng tới phát triển bền vững không chỉ phản ánh yêu cầu thực tiễn mà còn thể hiện quyết tâm chính trị của tỉnh trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống toàn diện cho đồng bào các DTTS.










