'Mặt nước' của tâm hồn Huế
HNN.VN - Ngoài Đại Nội huyền ảo, Huế còn có hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, một trong những hệ đầm phá nước lợ lớn nhất Đông Nam Á. Một không gian mà nếu biết kể đúng cách, có thể trở thành 'di sản sống' mang tầm quốc tế.

Ngư dân phân loại cá đánh bắt ở phá Tam Giang từ sáng sớm
Hệ sinh thái đa giá trị
Điều đặc biệt của không gian Tam Giang - Cầu Hai không nằm ở việc nó lớn bao nhiêu kilomet vuông. Giá trị lớn nhất nằm ở chỗ nơi đây là không gian giao thoa của rất nhiều lớp thời gian và giá trị cùng tồn tại.
Ở đó có thiên nhiên và con người, nước mặn và nước ngọt, nghề truyền thống và khát vọng tương lai, ký ức làng chài và du lịch trải nghiệm hiện đại, sự tĩnh lặng rất thiền của Huế và nhịp sống sinh kế ven phá. Muốn thế giới biết đến Tam Giang - Cầu Hai, có lẽ Huế không nên chỉ quảng bá như một “điểm tham quan”, mà cần kể nó như một “câu chuyện văn minh ven nước”.
Có lẽ Huế cần chuyển từ tư duy “tham quan di sản” sang “sống cùng di sản”.
Du khách đến Đại Nội để nhìn quá khứ, nhưng đến Tam Giang - Cầu Hai để chạm vào sự sống đang tiếp diễn mỗi ngày. Muốn vậy, cần nhìn Tam Giang - Cầu Hai như một hệ sinh thái đa giá trị chứ không chỉ là mặt nước nuôi thủy sản.
Lớp thứ nhất là giá trị sinh thái: Đây là “lá chắn xanh” ven biển, nơi nuôi dưỡng đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu và bảo vệ cộng đồng trước biến đổi khí hậu.
Lớp thứ hai là giá trị văn hóa: Nghề nò sáo, làng chài, tập quán cư dân ven phá, ẩm thực thủy sản, cách sống thích ứng với con nước… tất cả tạo nên một nền văn hóa nước rất riêng mà không nơi nào giống Huế.
Lớp thứ ba là giá trị nghệ thuật và cảm xúc: Không gian Tam Giang - Cầu Hai có khả năng tạo ra những hình ảnh mang tính điện ảnh, thi ca và hội họa rất mạnh. Đây là “sân khấu thiên nhiên” cho nhiếp ảnh, âm nhạc, festival ánh sáng, nghệ thuật sắp đặt và du lịch chữa lành.
Lớp thứ tư là giá trị giáo dục và tri thức bản địa: Đó là nơi kể cho thế hệ trẻ câu chuyện con người sống hài hòa với hệ sinh thái nước lợ suốt hàng trăm năm.
Và lớp cuối cùng là giá trị tương lai: Nếu được quy hoạch đúng, Tam Giang - Cầu Hai có thể trở thành hình mẫu quốc tế về kinh tế sinh thái ven hệ đầm phá, du lịch cộng đồng, bảo tồn gắn với sinh kế và đô thị sống hài hòa với thiên nhiên.

Du khách quốc tế trải nghiệm đầm phá
Cần một “đại tự sự” mới cho hệ đầm phá
Thiết nghĩ, không nên quảng bá riêng lẻ từng điểm check-in mà cần tạo nên một bản sắc tổng thể: “Huế, nơi có Hoàng cung giữa đất liền và một cung điện của thiên nhiên giữa mặt nước”. Hoặc: “Ban ngày nghe lịch sử kể chuyện trong Đại Nội, ban chiều nghe mặt nước kể chuyện ở Tam Giang”.
Muốn thế giới nhớ đến Tam Giang - Cầu Hai, cần làm cho nơi ấy trở thành một trải nghiệm không thể sao chép.
Không bê tông hóa thành khu du lịch đại trà.
Không biến làng chài thành sân khấu giả.
Mà giữ nguyên vẻ chân thật của đời sống ven phá, rồi nâng giá trị ấy lên bằng thiết kế cảnh quan tinh tế, nghệ thuật kể chuyện, truyền thông hình ảnh quốc tế, phim tài liệu, festival ven đầm phá, ẩm thực bản địa, du lịch chậm, thể thao nước, các không gian sáng tạo gắn thiên nhiên.
Nhiều quốc gia nổi tiếng không phải vì họ có tài nguyên đẹp hơn Việt Nam mà vì họ biết biến cảnh quan thành “biểu tượng cảm xúc toàn cầu”.
Santorini - Hy Lạp là câu chuyện của ánh hoàng hôn.
Venice - Ý là câu chuyện của thành phố trên nước.
Kyoto - Nhật Bản là câu chuyện của sự tĩnh lặng và thiền định.
Còn Huế hoàn toàn có thể kể với thế giới rằng: Đây là nơi một nền văn minh ven nước vẫn còn đang sống. Và phá Tam Giang - Cầu Hai chính là phần “mặt nước của tâm hồn Huế”.

Kiểm tra cây giống ngập mặn để trồng ven phá Tam Giang
“Đối thoại với thiên nhiên”
Tìm kiếm các giải pháp thuận thiên để phát triển bền vững là hướng đi đúng đắn. Thuận thiên cần trở thành tư duy chiến lược trong quản lý và phát triển. Phát triển vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai cần bảo đảm cách tiếp cận liên ngành, quản lý tổng hợp vùng bờ và tích hợp các giải pháp thuận thiên nhằm tăng cường khả năng chống chịu khí hậu”.
Từ tư duy ấy, có lẽ Tam Giang - Cầu Hai không nên phát triển theo cách “chinh phục thiên nhiên”, mà cần học cách “đối thoại với thiên nhiên”.
Thuận thiên không có nghĩa là buông theo tự nhiên một cách thụ động. Thuận thiên là hiểu quy luật của nước, gió, thủy triều, hệ sinh thái rồi thiết kế sinh kế, hạ tầng và phát triển kinh tế hài hòa với những quy luật đó.
Giải pháp thuận thiên đầu tiên là phục hồi hệ sinh thái tự nhiên của vùng đầm phá. Những cánh rừng ngập mặn ven phá, thảm cỏ biển, bãi sinh sản tự nhiên của thủy sản cần được xem là “hạ tầng xanh” chứ không chỉ là tài nguyên môi trường đơn thuần. Đó chính là lớp đệm sinh thái giúp giảm sóng, chống xói lở và tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Giải pháp thứ hai là chuyển từ khai thác đơn ngành sang kinh tế sinh thái đa giá trị. Một mặt nước không chỉ để nuôi tôm, nuôi cá, mà còn có thể tạo ra giá trị du lịch, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, nghiên cứu khoa học và kinh tế sáng tạo. Khi cộng đồng có nhiều nguồn sinh kế hơn, áp lực khai thác tận diệt lên hệ sinh thái cũng giảm đi.
Giải pháp thứ ba là phát triển du lịch thuận thiên. Không xây dựng dày đặc bê tông ven phá. Không phá cảnh quan để làm những công trình nhân tạo xa lạ với tự nhiên. Những điểm lưu trú nhỏ, sử dụng vật liệu địa phương, năng lượng tái tạo, kiến trúc thấp tầng hòa vào mặt nước và làng chài sẽ tạo nên giá trị bền vững hơn nhiều khu du lịch đại trà.
Giải pháp thứ tư là khôi phục và trao quyền cho cộng đồng cư dân ven phá. Chính người dân địa phương là “ký ức sống” của Tam Giang - Cầu Hai. Những ngư dân hiểu con nước, mùa cá, hướng gió và tập quán sinh thái bản địa cần được xem là chủ thể của quá trình phát triển, chứ không chỉ là đối tượng thụ hưởng.
Giải pháp thứ năm là quản lý tổng hợp vùng bờ theo tư duy liên ngành. Đầm phá không thể được quản lý tách rời giữa du lịch, thủy sản, môi trường, giao thông hay quy hoạch đô thị. Mọi quyết định phát triển cần nhìn toàn bộ hệ sinh thái như một cơ thể sống liên kết với nhau bằng dòng nước.
Và có lẽ, điều quan trọng nhất của tư duy thuận thiên là thay đổi cách con người nhìn thiên nhiên.
Không xem đầm phá chỉ là “quỹ đất mặt nước” để khai thác, mà xem đó là một phần di sản sống của tương lai.
Bởi khi con người biết sống hài hòa với tự nhiên, thiên nhiên không chỉ nuôi dưỡng sinh kế, mà còn nuôi dưỡng văn hóa, ký ức và cả căn tính của một vùng đất.
Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/kinh-te/mat-nuoc-cua-tam-hon-hue-165857.html











