Lòng sông...
VHXQ - Tôi hì hục leo tận đỉnh Ngọc Linh, nơi 'mái nhà miền Nam', cũng là điểm khởi thủy của dòng Thu Bồn lấp lánh. Có bận, xuôi dòng sông mẹ này từ thượng nguồn trôi lang thang về Cửa Đại. Có những lần băng qua cửa bể, đến tận ngoài đảo xa…

Cầu Nông Sơn. Ảnh: M.H
Những làng mạc, khe suối hình xương cá dọc triền sông in đậm dấu ấn của tiên tổ bao đời đi ngược khai hoang. Mùa xuân con nước xanh như ngọc, những bãi bờ đầy ắp bắp khoai. Mùa thác lũ, con sông gầm gừ đỏ nặng phù sa.
Theo dòng nước bạc
Tôi trở về nhà khi trận lũ thứ 3 trong một tuần vừa rút. Con đèo quen thuộc đất trượt vùi những khúc cua chực chờ gây họa. Người ta phải bước sè sẹ, gần như nín thở qua những doi đất đã “no nước”.
Xóm làng xác xơ trong nước bạc. Tuyến đường 610 từ Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Nông Sơn, Trung Phước đến tận Dùi Chiêng, Tý, Sé… đâu đâu cũng ngập ngụa bùn đất.
Thứ bùn non nhão như ai xay nhuyễn, tanh nồng trong nắng mới. Mùi oai oải của lá cây ngâm nước, mùi của xác động vật trương phình, mùi của nước lụt bốc hơi gây uể oải và đau đầu khủng khiếp.
Mẹ tôi dọn lại cái bếp sau nhiều ngày ngâm nước. Củi không có để nhóm, điện, nước cũng không. Cảm giác lạnh lẽo trong căn nhà ngâm lụt lâu ngày thật khó tả. Nhìn những bức tường loang lổ, bong tróc, mảng bùn như vết cứa vào tim gạch ngang cao quá tay với. Nó ghi dấu trận ngập kinh hoàng. Bếp lạnh đã đành, cái bàn thờ giữa nhà cũng trống trơn. May mà cậu em tôi đã kịp mang di ảnh ba, ảnh ông bà chạy lên triền núi.
“May lắm rồi con! Năm ni lụt lớn gần bằng năm Thìn (1964) nhưng làng mình không ai bị chi. Mất của thì làm lại” - mẹ tôi vẫn lạc quan như cội mai già chờ bung chồi sau lũ vậy đó. Có lẽ nhờ vậy mà một đời mẹ kiên cường qua bao phen thịnh nộ của đất trời, dòng sông.
Tôi đưa mẹ tiền để mua thuốc. Mẹ bảo đợi đường sạch sẽ hơn mới đạp xe lên tận bến đò Cà Tang lấy thuốc nam về sắc uống. Thuốc tây mẹ không uống được, xót ruột mà không dứt bịnh.

Từ thượng nguồn Thu Bồn. Ảnh: Dũng TK
Người già thường tự chữa bệnh bằng niềm tin. Tôi vội đưa bình kem bôi nấm chân rồi vội vã đi cứu trợ. Ngoảnh mặt nhìn lại dáng mẹ hao gầy trong cơn lũ thấy hồn mình bỗng chơ vơ.
Tôi đi cứu trợ muôn nơi bằng đồng tiền quyên góp của thiên hạ cho người đời nhưng làm sao cứu được nhà mình qua cơn lũ? Những dằn vặt tưởng là nhỏ nhoi nhưng nó in hằn lên thành nỗi đau qua năm tháng không lời đáp. Nhưng tự thấy rằng đó là trách nhiệm, là công việc thiêng liêng và tốt đẹp, không làm điều gì lớn lao thì sống sao cho mọi thứ rạch ròi như lời mẹ dặn.
Hồi ức của dòng sông
Cơn mưa chiều ập tới, tiếng mưa ràn rạt trên nóc xe tải. Mưa như muốn thủng mái tôn. Những lá non bị dính bùn bắt đầu được tắm rửa, gội sạch. Lúc nhỏ, bà tôi hay gọi đó là cơn mưa “dội bùn”.

Mùa nước đỏ đục.
Tôi nghĩ đó là cơn mưa đầy nhân ái mà đất trời dành cho vạn vật sau mỗi bận lụt lớn. Cây cối được rửa lớp bùn để đón ánh mặt trời. Những con đường, ao hồ, suối ngàn cần nước sạch để tẩy đi những cặn bã bị ngâm lâu ngày. Trận mưa sau lũ chẳng khác nào cơn mưa giải nhiệt giữa cái nắng hạn tưới cho cỏ cây khát cháy đêm hè.
Xe băng qua con đường tránh lũ, cánh đồng phủ kín bùn non dày cả thước. Lũ lụt càng lớn bùn non càng nhiều, đặc biệt lụt đầu mùa luôn như vậy. Tôi nhớ nội kể trận lụt trong đời bà, cũng là trận lụt để đời ở làng tôi, của những ngôi làng dọc triền Thu Bồn đã đi vào tiềm thức. Trận lụt đi vào trong máu, vào chiêm bao, thành nỗi sợ hãi bao trùm qua nhiều thế hệ - lụt “năm Thìn”.
Nội tôi kể nếu đêm đó không có chiếc ghe của một người quen dũng cảm liều mạng bơi đến cái nóc nhà duy nhất còn nhô lên giữa làng thì nội tôi, chú tôi và hơn 40 con người khác đã vĩnh viễn ra đi. Chú tôi năm đó vừa sinh chừng 4 tháng. Nội tôi gói chú trong túi vải, che mưa bằng tấm vải dầu và ôm sát vào lòng để giữ ấm. Bà không chỉ sợ chú tôi chết nước mà còn sợ chết rét vì mưa.
Đêm đen gió mưa vẫn ngập trời. Người ta bảo mưa liên tục 6 ngày không dứt. Cái nóc nhà ông Tích (làng Trung Hạ ngày nay), chỗ duy nhất còn nổi lên. Hơn 40 người bám trụ, giữa đất trời mênh mông mưa gào thét, họ nhỏ nhoi như đàn kiến thoi thóp.
Thỉnh thoảng vài người đàn ông nói vọng vào lời bái biệt. Ông Bốn Lý ở xóm ngồi trên nóc nhà nói vào ráo hoảnh: “Chào bà con! Tôi đi đây!” - rồi ông trôi vào bóng đêm, xoáy nước.

Trên sông Thu Bồn hiện có khá ít bến đủ điều kiện để phục vụ hoạt động tàu du lịch. Ảnh: Q.T
Nhưng điều thần kỳ đã tới. Lạ thay, một ngọn tre cong đưa lên giữa khoảng tối đã cứu ông. Ông mắc vào đó và sáng ngày mai thì có ghe tới kịp. Ông sống đến hơn 50 năm mới qua đời sau trận lụt đó. Chuyện lụt “năm Thìn” người làng tôi và những làng cạnh đó người chết tính bằng ngàn.
Nhà bạn tôi ở bến Cà Tang có đến 11 người mất trong trận lụt lịch sử năm Thìn. Người ta đã cột tay nhau bằng một sợi dây thừng để nếu có chết thì cả gia đình chết cùng nhau. Nếu ai đó có tìm thấy xác thì cũng tìm được cùng nhau, không sót ai.
Sau lụt, vẫn là lớp bùn non dày phủ đầy làng mạc. Thậm chí bùn non còn làm biến dạng cả những con khe suối nhỏ ven sông. Nội tôi kể người ta không dám ra đồng cuốc đất vì sợ trúng phải xác người dưới lớp bùn non đó. Phải đợi nắng tạnh, mọi thứ trương phình lên rồi mới xử lý đất.
Sau thảm nạn năm đó, nhà thơ Tường Linh có viết về vùng đất này bài thơ, nó chân thực về nỗi đau đến độ ám ảnh. Bài thơ “Thảm nạn quê hương”, bạn có thể tìm đọc dễ dàng trên mạng. Trong bài thơ, ông dùng từ “dây xác” để nói về cảnh người ta buộc dây vào tay nhau để xác định cái chết.
Giấc mơ ngày ráo tạnh
Tôi nghĩ về dòng nước sông quê với bao năm xói lở, đắp bồi. Dòng sông vẫn vậy. Lúc cuồng nộ lúc bình an. Lúc giận dữ, hung tàn, nhưng cũng có lúc khoan thai, sông lại chảy êm như hơi thở nhẹ.

Bãi bờ hai bên dòng sông Thu mùa yên bình. Ảnh: HỒ QUÂN
Nói bác tài dừng lại ở đỉnh đèo, tôi ngoái nhìn dòng sông, xa xa là ngọn núi cao chót vót, với dốc dựng, lòng sông thì khúc cạn khúc sâu.
Tôi vẫn nghĩ mãi về căn tính, nết người cùng xứ sở. Người quê tôi “ăn cục, nói hòn”, chân chất mà đậm tình, đã thương người thì trải ra như lòng sông mùa xanh biếc, êm ả, quyến luyến. Ghét ai thì cuồng nộ như con nước giữa dòng thác đục ngầu. Nhưng cơn lũ qua rồi thì sông lại bao dung như thuở ban đầu.
May quá dòng sông mỗi năm chỉ đôi ba lần lũ lụt lớn, còn lại là ngày tháng bình yên. Nước sông xanh vẫn nhiều hơn những lần đỏ đục. Sau mỗi trận lụt, bùn non là thứ bồi đắp, vun trồng cho những bãi bờ xanh tốt. Cho lá hoa vươn mình chào nắng mới.
Con sông như lòng mẹ chảy suốt qua hồn mình. Chúng tôi đi xa, đôi khi nghĩ về mọi thứ đều trôi xuôi tất cả. Sông như mẹ lúc giận hờn, lúc yêu thương, nhưng con sông ấy nuôi nấng chúng tôi xuyên suốt một đời. Sông có lúc mỏi mệt nhưng không bỏ chúng tôi bao giờ. Sông cứ chảy mãi trong hồn người xa quê...
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/long-song-3313712.html











