Làm chủ và cân bằng cảm xúc

Doanh nhân luôn nằm trong vòng xoáy thành - bại - mất - còn, với rất nhiều cảm xúc buồn vui lẫn lộn. Để đổi lại thành quả, doanh nhân phải trải qua biết bao tính toán, căng thẳng, áp lực hay nói cách khác là sống chung với stress mỗi ngày.

Vui mừng quá cũng… hại!

Không chỉ những cảm xúc tiêu cực như buồn, lo lắng, ưu tư, suy nghĩ, giận dữ... là có hại, mà kể cả những cảm xúc tích cực như vui mừng thái quá cũng không tốt cho sức khỏe. Y học Đông phương xưa xếp các cảm xúc gây bệnh cho con người vào nhóm nguyên nhân gây bệnh nội nhân (thất tình: nộ (giận), hỉ (vui), ưu (lo), tư (suy nghĩ), bi (buồn), kinh (sợ), khủng (hốt hoảng)).

Là con người thì phải có cảm xúc, nhưng bất cứ cảm xúc nào mà thái quá sẽ có hại cho sức khỏe. Đối với người bình thường để giữ cân bằng cảm xúc đã khó, là doanh nhân do đặc thù môi trường làm việc giữ được sự cân bằng này càng khó hơn. Bài viết xin được phân tích sự ảnh hưởng của cảm xúc lên sức khỏe và cách luyện tập để đạt được sự cân bằng trong cảm xúc theo y học cổ truyền (YHCT).

Tinh thần và thân thể là hai phạm trù khác nhau nhưng gắn liền với nhau như âm với dương, nên các tài liệu về phép dưỡng sinh cổ đại có ghi chép lại như sau:

Đại y thiền sư Tuệ Tĩnh có nói: Thân thể con người nhờ khí huyết mà sinh trưởng, nhờ tạng phủ mà nuôi dưỡng. Cho nên khéo bồi dưỡng thì có ích, không khéo gìn giữ thì có hại. Khéo bồi dưỡng là lo nghĩ vừa phải, mừng giận có chừng, ăn uống dè dặt, làm lụng điều độ... như thế là có ích. Không khéo giữ gìn là ham muốn quá độ, tửu sắc không dè, thất tình dồn ép, làm lụng quá sức, tinh thần và hình thể đã bị mệt mỏi ắt là gặp phải tai hại mà phát sinh bệnh tật.

Từ hàng ngàn năm trước, y học Đông phương đã sớm ghi nhận mối quan hệ tác động qua lại của vấn đề tinh thần và thể chất, trong đó đã chỉ ra mối liên hệ giữa các triệu chứng của cơ thể với trạng thái cảm xúc. Trong các nhóm nguyên nhân gây bệnh theo YHCT là nội nhân, ngoại nhân, thì nhóm nội nhân chính là các cảm xúc thường dễ gây bệnh.

Nội nhân là thất tình, là chỉ bảy thứ tình chí biến đổi khác nhau. Những biến đổi này là biểu hiện cụ thể của tinh thần hoạt động, theo ảnh hưởng của sự vật khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, làm cho tình chí của con người hoạt động biến đổi từng giờ từng phút. Trong tình trạng bình thường, sự biến đổi đó có tiết chế được cho nên không tổn hại đến sức khỏe. Nếu như mừng giận mà lo nghĩ quá, tinh thần bị kích thích thì ảnh hưởng đến sinh lý bình thường mà phát sinh bệnh tật. Thiên Cử thống đại luận sách Tố vấn viết: “Giận thì khí bốc lên, mừng thì khí hoãn, buồn thì khí tiêu, sợ thì khí hạ, kinh thì khí loạn,... nghĩ thì khí kết”. Thiên Âm dương ứng tượng đại luận lại viết: “Mừng quá hại tâm”, “giận quá hại can”, “nghĩ quá hại tỳ”, “lo quá hại phế”, “sợ quá hại thận”. Ngoài ra, thất tình có thể làm ngũ tạng sinh bệnh, nhưng quy kết lại thì gốc ở tâm, vì “tâm tàng thần”, tâm lại là đứng đầu ngũ tạng lục phủ, thất tình động đến tất biến động, ảnh hưởng đến tâm. Thiên Khẩu vấn sách Linh khu viết: “Buồn, thương, lo, sầu thì động đến tâm, tâm động thì ngũ tạng lục phủ đều dao động”.

Khoa học hiện đại ngày càng có nhiều bằng chứng hơn về vấn đề này. Khi bạn suy nghĩ tích cực, não bộ sẽ sản sinh ra các endorphins gây ảnh hưởng có lợi tới các nội tạng cơ thể. Ngược lại, với các suy nghĩ tiêu cực, não bộ sẽ sản sinh ra adrenaline, khiến hệ thống đề kháng bị đình trệ. Như vậy, những suy nghĩ tiêu cực như oán hận, đố kỵ, thù địch, sợ hãi, lo lắng... sẽ không chỉ gây ảnh hưởng tới tinh thần của bạn, mà sẽ khiến thể chất của bạn suy sụp.

Người ta ví “stress là chất muối làm thi vị cuộc đời nhưng đừng xài nó quá mặn”, những căng thẳng trong cuộc sống chỉ nên như muối, một chút thôi thì sẽ là gia vị cho cuộc sống thêm đậm đà. Thực chất stress ở mức độ nhỏ đến vừa phải là động lực thôi thúc chúng ta giải quyết vấn đề, tạo ra cái mới. Nhưng stress quá độ làm mất cân bằng trong tâm lý sẽ rất tai hại, gây ra nhiều hậu quả về thể chất và tâm thần.

Dấu hiệu của sức khỏe tinh thần mất cân bằng cần được quan tâm

Hầu hết các trạng thái suy nhược thần kinh đều thể hiện bằng các triệu chứng toàn thân như:

Trạng thái dễ bị kích thích do suy nhược cơ thể, người trở nên rất dễ cáu gắt, la hét, quát tháo vì những nguyên cớ rất nhỏ nhặt. Và dù vẫn nhận biết được việc cáu gắt đó là không đúng nhưng không thể kiểm soát được. Do tính cảm thụ của các giác quan trong cơ thể gia tăng nên họ có thể bực tức với cả tiếng nô đùa của trẻ con, mùi nước xịt phòng, ánh sáng đèn chói chang hoặc vị chua của bát canh...

Một biểu hiện khác của trạng thái dễ bị kích động là thường mau nước mắt khi xem một bộ phim tình cảm hay nghe một chuyện kể bi thương nào đó. Rối loạn chức năng tình dục cũng thường xảy ra. Thể trạng toàn thân thì mệt mỏi mặc dù đã cố dành thời gian hoặc tẩm bổ, khí sắc sụt giảm, trí nhớ suy yếu và khó tập trung giải quyết công việc. Nếu không quan tâm chữa trị đúng mức, suy nhược thần kinh ngày càng trầm trọng và có thể dẫn đến những bệnh lý tâm thần khác.

Đau đầu là triệu chứng cũng thường thấy. Người có cảm giác nặng nề ở đầu, nhức buốt hai hốc mắt (có thể kèm theo tình trạng tăng độ cận thị). Chứng nhức đầu gia tăng khi nghỉ ngơi hoặc khi ngồi không hoặc khi chưa có một giải pháp cụ thể nào cho khó khăn đang đối mặt. Vị trí đau thường khu trú ở trán và có thể hai bên thái dương.

Rối loạn giấc ngủ thường xuyên xảy ra với các hình thức như thường xuất hiện mộng mị, ác mộng, ngủ vật vờ, khó ngủ, ngủ nông cạn, ngủ ngắn, dễ thức giấc do bất kỳ nguyên nhân gì và không tài nào ngủ trở lại được.

Các triệu chứng khác có thể xảy ra ở tùy mỗi người như rối loạn cảm giác, tri giác và vận động: chóng mặt, ù tai, dị cảm kiến bò, kim châm, tê tay chân, run giật cơ (nhất là ở mắt và mặt), gia tăng phản xạ gân cơ; các triệu chứng tâm thần nhẹ như khuynh hướng gia tăng nhịp tim, hồi hộp, đánh trống ngực, đau sau vùng xương ức, cảm giác ngột ngạt, thở gấp cũng thường xảy ra; rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy, táo bón, nôn ợ, đầy hơi, khó tiêu; rối loạn cảm xúc, ý chí và trí năng thể hiện bằng các biểu hiện mất tập trung, lo ra, suy nghĩ kém linh hoạt và thậm chí rối loạn ngôn ngữ, định kiến, ám ảnh.

Ứng dụng y học để cải thiện sức khỏe tinh thần

Nguyên tắc chăm sóc chung là giải tỏa căng thẳng, stress (tâm lý liệu pháp); nghỉ ngơi; nâng tổng trạng (hưng phấn, ức chế) bằng thuốc, bằng tập luyện.

- Thiền: quán tưởng những ý nghĩ tích cực (gồm hai bước tập luyện: tĩnh, động).

- Động tác thư giãn: nằm che mắt nơi yên tĩnh, với ba bước: (1) ức chế ngũ quan; (2) tự nhủ cho cơ thể mềm ra, giãn ra; từng nhóm cơ, từ trên mặt xuống dần đến ngón chân, một cách từ từ, toàn thân nặng xuống ấm lên; (3) theo dõi hơi thở, thở thật êm, nhẹ, đều, nông cho đến khi đi vào giấc ngủ.

- Động tác thở bốn thời: tập đều đặn 10-15 hơi thở, hai lần/ngày, với nằm ngửa thẳng, kê một gối ở mông, cao khoảng 5-8 cen ti mét vừa sức, tay trái để trên bụng, tay phải để trên ngực; nhắm mắt, chú ý vào việc tập thở. Bốn thời tập luyện bao gồm:

Thời 1: hít vào tối đa, ngực nở bụng phình và căng (3-6 giây). Thời 2: giữ hơi, mở thanh quản bằng cách cố gắng hít thêm, lồng ngực vẫn giữ nguyên ở tình trạng nở tối đa, bụng vẫn phình căng cứng, đồng thời giơ một chân dao động qua lại 4 hoặc 6 cái, rồi hạ chân (3-6 giây). Thời 3: thở ra thoải mái tự nhiên, để lồng ngực và bụng tự nhiên hạ xuống, không kìm không thúc (3-6 giây). Thời 4: thư giãn chân tay mềm giãn (3-6 giây).

- Luyện tổng hợp hô hấp, tuần hoàn và thần kinh. Chủ yếu là luyện sự cân bằng hai quá trình hưng phấn và ức chế.

- Xoa bóp - bấm huyệt vùng đầu: người xoa bóp bấm huyệt cần được nằm ngửa, thả lỏng người và tiến hành xoa bóp qua các bước sau:

(1) Ấn day chân tóc: dùng đầu ngón tay thực hiện kỹ thuật ấn theo hình lò xo. (2) Chải đầu: dùng các ngón tay chải đầu, theo hướng chải thẳng và chải ngang, vừa chải vừa kéo nhẹ chân tóc. (3) Vỗ đầu: dùng đầu các ngón tay vỗ quanh đầu, theo hai hướng ngược chiều nhau, vỗ hai vòng. (4) Gõ đầu: dùng thủ thuật chặt bằng ngón tay, hai bàn tay chập lại tác động vùng đầu. (5) Bóp đầu: ngón cái một bên các ngón tay còn lại một bên và thực hiện bóp, hai bàn tay bóp đầu theo hướng từ dưới lên trên. (6) Tìm điểm đau (a thị huyệt) và day điểm đau: tùy điểm đau cự án hay thiện án mà day cho thích hợp. (7) Ấn day huyệt: Đầu duy, Bách hội, Phong phủ, Phong trì. Tứ thần thông, Thái dương, Ế phong, tùy vị trí mà sử dụng huyệt hợp lý. (8) Rung: hai tay ôm lấy đầu và thực hiện kỹ thuật rung với tần số nhanh.

- Dược chẩm (túi chườm thảo dược): chườm ấm vùng cổ gáy để an thần dễ ngủ, tăng tuần hoàn não và ổn định huyết áp.

- Ngâm tắm thảo dược, hương liệu pháp giúp cân bằng cảm xúc.

(*) Bác sĩ chuyên khoa 2

Huỳnh Tấn Vũ (*)