Khu vực kinh tế tư nhân: Ai dẫn dắt, ai gắn kết?

Được ví von như đầu tàu quyết định tốc độ hướng đích của nền kinh tế nhưng sau nhiều năm phát triển tương đối tốt, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đang có những dấu hiệu 'hụt hơi'. Nhận diện và tìm cách hóa giải những điểm nghẽn là nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh Việt Nam hướng đến các mục tiêu tham vọng trong 20 năm sắp tới.

Khu vực kinh tế tư nhân đang có dấu hiệu “hụt hơi”. Ảnh: LÊ VŨ

Khu vực kinh tế tư nhân đang có dấu hiệu “hụt hơi”. Ảnh: LÊ VŨ

Bức tranh hai mảng màu

Tại các quốc gia phát triển, động lực xây dựng, đổi mới và thúc đẩy sự trưởng thành bền vững của toàn nền kinh tế thuộc về khu vực kinh tế tư nhân. Hướng tới mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam sẽ không phải là ngoại lệ.

Theo một nghiên cứu của Chính phủ Úc (2014), khu vực kinh tế tư nhân tạo ra 90% việc làm; tài trợ hơn 60% lượng vốn đầu tư vào các nước đang phát triển; đóng góp hơn 80% vào ngân sách... Nghiên cứu khác của Ủy ban châu Âu (2017), mức đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP và việc làm tại các quốc gia đang phát triển lần lượt là 84% và 90%.

Vai trò và mức đóng góp của kinh tế tư nhân Việt Nam đang khiêm tốn hơn nhiều. Theo Cục Thống kê, đến năm 2024, khu vực kinh tế tư nhân chiếm 53,4% tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội, đóng góp 43% tổng GDP và sử dụng 82,07% tổng lao động trong nền kinh tế. Nhìn từ góc độ tích cực, tiềm năng và dư địa của kinh tế tư nhân Việt Nam còn lớn, nhất là khi tốc độ tăng trưởng của khu vực này vượt trội so với các khu vực khác. Theo nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân, trong giai đoạn 2011-2023, số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng bình quân 14,7%/năm; quy mô vốn đầu tư tăng bình quân 25,3%/năm; lực lượng lao động tăng bình quân 8%/năm. Các con số tương ứng trung bình của cả nước chỉ là: 10%; 21,9% và 5,1%.

Cùng với sự gia tăng quy mô các yếu tố nguồn lực, trong giai đoạn nói trên, tốc độ tăng trưởng doanh thu của khu vực kinh tế tư nhân trung bình là 13,5%/năm, cao hơn nhiều so với doanh nghiệp nhà nước (6,1%).

Tuy nhiên, nghiên cứu “Tháo gỡ các nút thắt trong phát triển kinh tế tư nhân nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số” của Đại học Kinh tế Quốc dân đã thẳng thắn chỉ ra những dấu hiệu “hụt hơi” của khu vực kinh tế tư nhân. Theo đó, tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp, doanh thu, vốn đầu tư hay lao động từ năm 2016 đến nay có xu hướng chậm dần so với giai đoạn 2011-2015; hiện tượng doanh nghiệp không muốn lớn có xu hướng gia tăng; hiện tượng doanh nghiệp tư nhân ngừng hoạt động hoặc tuyên bố phá sản có xu hướng tăng trong những năm gần đây, tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân “không có sinh nhật lần thứ 2” lên tới 50%...

Rõ ràng, đang tồn tại những nút thắt cản trở sự phát triển xứng tầm của khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam mà trong khuôn khổ nghiên cứu nói trên, các chuyên gia kinh tế đã nhận diện chúng và đưa ra những giải pháp cần được xem xét thấu đáo.

Điểm nghẽn nằm ở đâu?

Ngoài những bất cập trong nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân hay hệ thống chính sách nhiều khía cạnh còn thiếu tính bao trùm..., nhóm nghiên cứu do GS. Ngô Thắng Lợi (Đại học Kinh tế Quốc dân) dẫn dắt đã đề cập tới một điểm nghẽn khác. Đó là Việt Nam chưa có mô hình thích hợp, hiệu quả để gắn kết các bộ phận cấu thành của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.

Việt Nam chưa có mô hình thích hợp, có hiệu quả để gắn kết các bộ phận cấu thành của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.

Đầu tiên, các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn (tập đoàn kinh tế) chưa chủ động được vai trò dẫn đắt trong mô hình phát triển đa tầng lực lượng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Trong định hướng và thực thi phát triển, các tập đoàn kinh tế tư nhân còn chưa có các chiến lược kinh doanh dựa trên phát triển các ngành công nghệ nguồn, hoặc các ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm thượng nguồn, vì thế, nhu cầu hình thành các chuỗi cung ứng nội địa hoàn chỉnh - cơ sở của việc thực hiện liên kết kinh doanh - còn thiếu.

Bên cạnh đó, các chuyên gia kinh tế chỉ rõ, trong “sứ mệnh” hay “tầm nhìn”, các tập đoàn kinh tế tư nhân vẫn chưa đặt ra vấn đề xây dựng và phát triển các chuỗi - mạng sản xuất do các tập đoàn làm chủ, vì thế, trên thực tế, chưa có chuỗi - mạng sản xuất liên kết các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.

Trong khi đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu các điều kiện tiên quyết để tham gia liên kết kinh doanh với các doanh nghiệp quy mô lớn của khu vực kinh tế tư nhân, cũng như của các khu vực kinh tế khác, như quy mô quá nhỏ, yếu kém về chất lượng nguồn nhân lực, tài chính, trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất, kỹ năng quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm; hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính ngắn hạn, cơ cấu phần lớn là loại hình kinh doanh dịch vụ, sản phẩm sản xuất và kinh doanh nhỏ lẻ, dung lượng vốn thấp, chất lượng không cao; mạng lưới doanh nghiệp còn quá mỏng, không đủ sức để làm trung gian, kết nối doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vào quỹ đạo.

Ngoài ra, chúng ta chưa có được mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người Việt Nam định cư ở nước ngoài với các hoạt động kinh doanh của kinh tế tư nhân trong nước.

Hai mô hình liên kết

Nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân đề xuất hai mô hình gắn kết lực lượng kinh tế tư nhân người Việt Nam. Một là, mô hình liên kết các loại hình doanh nghiệp tư nhân trong nước dưới dạng “hiệu ứng chảy tràn”. Theo mô hình này, tập đoàn kinh tế tư nhân, tập đoàn kinh tế nhà nước, tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài tiếp cận trực tiếp với thị trường, thực hiện thương mại hóa các sản phẩm.

Để có được sản phẩm đồng bộ với quy mô lớn, các tập đoàn thực hiện liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp với các bộ phận khác của khu vực kinh tế tư nhân. Sự liên kết được thực hiện dưới các hình thức khác nhau như liên kết chuỗi giá trị sản xuất, liên kết kinh doanh tuần hoàn, liên kết hợp tác, hợp đồng cung cấp và trao đổi sản phẩm hay theo kiểu doanh nghiệp kinh doanh tạo tác động xã hội. Nhờ đó, kết quả kinh doanh và sự phát triển được chảy tràn từ trên xuống dưới. Muốn tham gia vào chuỗi liên kết này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh phải thay đổi cơ bản hoạt động kinh doanh theo hướng chiến lược, đặt mình vào chuỗi cung ứng sản phẩm cho doanh nghiệp lớn hoặc đảm nhận nghiên cứu và triển khai để tạo ra các sản phẩm mới...

Hai là, mô hình tổ chức liên kết doanh nghiệp của người Việt Nam ở nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân trong nước, cùng với việc tăng cường củng cố vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Theo mô hình này, doanh nghiệp tư nhân của người Việt Nam ở nước ngoài có lợi thế về thị trường tiêu thụ sản phẩm, về các điều kiện vốn đầu tư, công nghệ và thiết bị sản xuất kinh doanh hiện đại. Doanh nghiệp tư nhân trong nước và địa phương có lợi thế về cơ sở nguyên liệu, cơ sở sản xuất và lực lượng lao động. Hai bên sẽ hợp tác, bổ sung cho nhau, từ đó, giúp lực lượng kinh tế tư nhân Việt Nam lớn mạnh hơn.

Khánh Nguyên

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/khu-vuc-kinh-te-tu-nhan-ai-dan-dat-ai-gan-ket/