Hương trầm làng cũ

VHXQ - Tháng Chạp, nắng lơ thơ rọi xuống hong khô mặt đất ấm. Cánh đồng Trung Phước (Nông Sơn, thành phố Đà Nẵng), nấp sau thung lũng lúa non lún phún lên xanh. Làng tôi bắt đầu dọn dẹp những ngổn ngang sau trận lũ, và sau một mùa đông dài rét mướt.

Cửa hàng trầm hương của người làng Trung Phước ở nước ngoài. Ảnh:T.V

Cửa hàng trầm hương của người làng Trung Phước ở nước ngoài. Ảnh:T.V

Bác Bốn mang cái chảo gang to dùng kê lên trên ba cục đá ngay ngã ba đầu làng, bắt đầu rang nếp làm bánh. Một mớ củi khô vớt ở mé sông hôm dọn lụt cũng được chẻ ra, phơi nắng, chuẩn bị nấu bánh tét. Xa xa mấy tiệm chế biến trầm hương thủ công đốt vài miếng dăm. Mùi trầm hương quyện trong gió phảng phất quanh làng, thế là Tết đến…

Những bãi bờ tháng Chạp

Tôi thường chọn về quê vào tháng Chạp nhiều hơn so với các tháng trong năm. Có khi trở về chỉ để ngắm mấy con đường, những cánh đồng, ngọn núi phủ đầy mây trắng, những con cò đứng trong rét run của một chiều muộn hay chỉ về đứng đó ngắm dòng sông lúc hoàng hôn buông...

Tháng Chạp quê tôi tất tả lắm. Mẹ phải ra đồng cào cỏ lúa non. Vừa xong đám ruộng lại quày quả ra doi đất ven sông. Mẹ xới tơi lên lớp phù sa khô cứng, gạt đi lớp cát mịn, giẫy đám cỏ, rồi tỉa xuống nào những bắp, những đậu xanh, đậu đen, đậu phụng và những hạt mè li ti đen nhánh.

Những vụ mùa hoa trái ven sông vào tháng Chạp nhà nhà đều vác cuốc ra biền bãi ven sông, chẳng mấy chốc, con sông Thu Bồn dài rộng ấy hai bờ sông như có người khoác áo mới. Người ta quên bén chuyện cách đây vài tháng, dòng sông đỏ ngầu, cuộn chảy, hung hãn và tàn phá mọi thứ trên đường dòng nước đi qua.

Tháng Chạp, mùi hăng hăng của lớp phù sa gợi lên, xộc vào mũi, thứ đất cho rau xanh tốt, mùi của nó làm những thằng xa quê chìm vào thương nhớ.

Tháng Chạp nào các cô, các dì, cùng mẹ tôi cũng lót đòn gánh ngồi ở đầu làng đều than vãn một giọng như nhau mải miết đến lạ kỳ. Thiếu. Cái gì cũng thiếu. Tháng Chạp tới tự dưng những lo toan cũng ập tới.

Tôi quan sát thấy mấy chục năm ròng rã cũng chừng ấy con người, cũng chủ đề đó, cứ gặp nhau là bàn tới, bàn lui, xoay đi, xoay lại là túng với thiếu. Cũng là lo chuyện bánh trái, thịt thà, trà nếp, chuyện nhà, chuyện làng, chuyện ngõ, chuyện ông bà, rồi con cháu, áo quần, tiền bạc…

Cứ như một năm quần quật rồi đổ hết mọi lo lắng, túng thiếu vào tháng Chạp. Tôi để ý, mãi đến sau này, khi mà gạo mắm cũng đủ đầy, chưa dám nói là thừa mứa nhưng cái lo thường trực như ngấm trong gen ấy vẫn hiện về, vẫn ca thán. “Gạo tháng Giêng, tiền tháng Chạp”, năm nào các dì tôi cũng phải nhắc câu ấy khi gặp nhau đôi ba lần mới chịu.

Tôi suy nghĩ mãi về những lời ấy. Có lẽ nó là di chứng của một thời lo xa đủ bề. Nó là cú giật mình như những người đã quen với những cơn mộng chập chờn trong giấc ngủ đầy âu lo. Dù quê hương đã thay đổi nhiều lắm, những căn nhà thênh thang, ruộng lúa đầy đồng, mà di chứng của một thời đói khổ đã in hằn vào những người già quê tôi không sao dứt được.

Nhưng rồi ý nghĩ ấy, tôi thấy mình rất chủ quan. Sau trận dịch, sau mỗi mùa lũ, nào những chuối, mít, măng, rau… tất cả thứ ấy “hậu phương” là quê tôi, bàn tay mẹ tôi, cứ đều đều nhắn gởi. Một nơi chốn mà tôi sẽ còn nương náu có lẽ đến lúc bạc đầu.

Tôi vẫn thăm các cô chú, cậu mợ và hàng xóm tôi mỗi bận xuân về. Như một lề thói cũ đáng quý, ba ngày tết, bảy ngày xuân phải thăm nhau với vài câu chúc. Cũng như mẹ tôi, nhà nhà tôi tới mọi người phải bày biện nào bánh khô, nào hoa trái, nào thịt muối, dưa hành, bánh tráng rau sống… và bắt tôi và cả lũ trẻ phải… ăn! Ăn để thể hiện chút tình thương mến đủ đầy thấm cả vào ruột gan.

Tôi nghĩ mẹ hay các cô dì tôi sợ thiếu là thiếu cái đó. Thiếu chút quan tâm với các con, các cháu, lo cho nhau không chỉ ba ngày tết mà cả một sự đủ đầy dặm dài suốt năm. Và ba ngày tết mới là bước khởi hành đầu tiên. Bước đầu tiên thì phải bền, phải chắc chắn.

Cửa hàng trầm hương của người làng Trung Phước ở nước ngoài. Ảnh:T.V

Cửa hàng trầm hương của người làng Trung Phước ở nước ngoài. Ảnh:T.V

Những cơn gió bay xa

Chừng hai thập niên gần đây, ngôi làng nhỏ bé dưới chân núi Cà Tang của tôi có sự đổi thay kỳ lạ. Vẫn ruộng vườn, bãi bờ đó, vẫn cô dì cùng mẹ tôi chăm bón mỗi vụ mùa. Nhưng có một lớp người khác, trẻ hơn, mạnh mẽ hơn, kiên định hơn bứt phá lên và đi thật xa.

Tôi vẫn nhớ cha tôi theo lớp người đầu tiên từ tỉnh Phú Khánh (cũ) ra để bày cho việc lên núi tìm trầm. Ngày ấy, trong ký ức tôi trầm nhiều vô kể.

Tuy việc lội rừng gian nan nhưng những thứ người làng mang về đều là loại trầm thượng hạng. Những cục trầm như bắp chuối, dầu đặc lừ, chắc nịch. Những tốp thợ cả ngày tỉa trầm cho ra những cục đen nhánh, mùi thơm tinh túy nhất của đất trời không lẫn vào đâu được.

Nhưng rồi, giá bán khi ấy rẻ bèo đến độ chẳng ai khá lên được với nghề này. Rốt cuộc là tuổi già, bệnh tật và nợ nần ập tới… lớp người ấy dừng chân với cùng với giấc mơ lãng mạn của mình. Và cuối cùng, đọng lại trong họ chỉ là những câu chuyện kể về rừng, về những giấc mơ thật hư như ảo ảnh.

Đỉnh núi Nông Sơn nhìn từ trên cao. Ảnh MINH THÔNG

Đỉnh núi Nông Sơn nhìn từ trên cao. Ảnh MINH THÔNG

Nhưng lớp trẻ nay đã khác. Họ không lên rừng sâu, núi cao “ngậm ngải tìm trầm” như cha ông mà họ đi xa để làm thương mại. Từ vài người sáng tạo ra cách làm trầm cảnh, rồi thêm vài người nữa khăn gói đi xa tìm thị trường nước ngoài, lần lượt nối tiếp nhau, làng tôi thành một thủ phủ hàng thủ công, mỹ nghệ và thương mại lúc nào chẳng hay.

Ngày nay, không khó để hỏi chuyện trầm hương một người ở Trung Phước nói về thị trường Dubai, Macao, Trung Đông hay Ấn Độ. Người dân ở đây còn đếm được ngày tháng nào, một năm có bao nhiêu hội chợ ở thị trường Trung Quốc rộng lớn. Các thị trường ấy có đặc tính tiêu dùng như thế nào. Mặt hàng nào bán chạy và sở thích của từng khách hàng, vùng miền khác nhau ra sao.

Nếu ngày xưa một vài du khách người nước ngoài về làng du lịch, hỏi thăm tìm hiểu mặt hàng này khá hiếm và xa lạ, thì ngày nay những khách hàng tới lui là chuyện thường ngày. Không những tới mua bán, trao đổi, họ còn đặt những mặt hàng thủ công sản xuất theo yêu cầu, nhu cầu khách hàng của họ.

“Ngày xưa còn cập kè người phiên dịch, nay thì dễ lắm! Cái điện thoại trên tay mình có thể trao đổi thoải mái từ chuyện phiếm đến chuyện thương mại một cách bài bản” - anh Ba, một người buôn trầm lâu năm ở làng tôi cho biết.

Quay lại tháng Chạp, cái tháng mà mọi công việc buôn bán tạm dừng để các trai tráng tìm về làng. Những cơ sở sản xuất trầm thủ công mỹ nghệ cũng tạm ngưng để đón chờ một năm mới. Cái quán nhỏ dưới vòm tre nhìn ra dòng Thu Bồn xanh mướt thành điểm tụ tập những thanh niên của làng. Họ bàn tán đủ chuyện, trao đổi hàng hóa, đánh giá thị trường, tìm kiếm cơ hội ở một điểm nào đó xa lắc trên tấm bản đồ thế giới, cái điều mà tôi không tưởng tượng được ở ngôi làng nhỏ này.

Và tháng Chạp cũng là lúc những chàng trai đi xa quay về cố quận. Họ vẫn đến từng nhà thăm các cụ già, những món quà của những người con một năm quần quật tha hương không quên nguồn cội được trao gửi.

Mùi của làng quê, mùi của đất bùn, mùi của cây cải, cây ngò, của thớ đất ven sông vẫn còn nguyên đó. Vẫn hắc lên trong cái nắng hăng hăng của tháng Chạp. Mùi của hương trầm vẫn hòa quyện, nhưng có lẽ nó đã vượt khỏi ngôi làng, bay qua ngọn núi, vượt cả biên giới đến những nơi xa tít trên địa cầu mà có thể nhiều người làng chưa biết, và quay về giữ ấm những mái nhà quê xưa.

HỒ TẤN VŨ

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/huong-tram-lang-cu-3323170.html