Hồi ức 81 ngày đêm của Cựu chiến binh thành cổ Quảng Trị
Dù chiến tranh đã qua mấy chục năm nhưng từng hình ảnh, âm thanh về 81 ngày đêm máu lửa trong trận chiến Thành cổ Quảng Trị vẫn được tái hiện rõ nét trong tâm trí người cựu binh Phạm Quang Dong (xã Vạn Yên, huyện Mê Linh, TP Hà Nội).
Tiếp chúng tôi trong những ngày tháng 4 lịch sử, khi cả nước đang hướng về giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2021), ông Phạm Quang Dong lại bồi hồi kể lại quãng thời gian hào hùng - Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm máu lửa. Ông Dong nhớ lại, năm 1971 dù đang đảm nhiệm chức Hiệu phó của trường Tiểu học Tiến Thắng nhưng theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông vẫn quyết chí gác lại sự nghiệp và gia đình một lòng quyết tâm lên đường đi bộ đội.

Ông Phạm Quang Dong trong dòng hồi ức về cuộc chiến Thành Cổ Quảng Trị
Ngày 26/3/1972, ông cùng đồng đội bước vào trận chiến ác liệt ở Thành cổ Quảng Trị và được phân về Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 1, Đại đội 1 làm Tiểu đội trưởng. Ngày ấy, mảnh đất Thành cổ Quảng Trị nhỏ bé được ví như là “túi bom” của kẻ thù. Giọng trùng xuống, ông Dong kể: “ 81 ngày đêm tại Thành cổ Quảng Trị là những ngày tháng không thể quên trong cuộc đời tôi. Đã có rất nhiều đồng chí, đồng đội tôi đã chiến đấu, hy sinh, vĩnh viễn nằm lại mảnh đất Thành cổ. Cả Trung đoàn ban đầu có hơn 2000 đồng chí thì đã hy sinh mất 1000 người, hơn 700 người bị thương tích. Lớp chiến sĩ này nằm xuống lại có lớp chiến sĩ khác được bổ sung vào. Thành cổ Quảng Trị ngày đó được ví như “cối xay thịt”, vì vào dễ mà ra thì rất khó khăn”. Để nâng tinh thần chiến đấu cho đồng đội trước mỗi trận đánh, ông Dong khi ấy vẫn thường kể những câu chuyện lịch sử oai hùng cho mọi người nghe.
Ông Dong nhớ như in ngày 16/9/1972, sau 1 trận giao tranh ác liệt cả đại đội của ông có năm người thì bốn người bị thương nặng, còn riêng ông Dong thì bị địch bắt và đưa về nhà tù Phú Quốc tra khảo.
Bọn giặc đưa ông đi hết Quảng Trị rồi lại về giam ở Huế, sau đó được đưa ra giam giữ tại Phú Quốc, dùng đủ loại cực hình tra tấn dã man hòng moi móc thông tin của Cách mạng. Nhưng bằng ý chí quật cường, bất khuất, người cựu chiến binh ấy vẫn quyết giữ trọn lời thề của người lính, không khai nửa lời. Mặc dù bị đày đọa như vậy, nhưng khi tranh thủ đi nhận phần cơm và chữa trị vết thương ông vẫn cố gắng liên lạc với một số chiến sĩ của mình để bàn cách đấu tranh thoát khỏi cảnh tù đày.
Nhân dịp đoàn Hồng Thập Tự Quốc Tế sang thăm tù binh Việt Nam, ông Dong đã được các đồng chí của mình tin tưởng giao nhiệm vụ ra gặp phái đoàn. Tại đây ông đã có nhiều ý kiến là cho anh em bị thương đi chữa trị, không đánh đập và yêu cầu đối xử với tù nhân đúng quy định luật pháp Quốc tế. Sau nhiều lần đấu tranh quyết liệt, cuối cùng địch cũng chấp nhận lời đề nghị của ông là cho một số đồng chí của ta bị thương đi chữa. Ngày 14/3/1973, sau nhiều cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ của các tù chính trị, chính quyền ngụy buộc phải đưa ông ra sân bay Phú Quốc để trao trả tù binh và được phép trở về với gia đình.

Ông được Nhà nước tặng thưởng nhiều bằng khen cao quý
Không đầu hàng trước thử thách của cuộc sống, sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ông ra quân và tiếp tục công tác tại ngành giáo dục huyện Mê Linh. Trở về sau cuộc chiến tàn khốc ấy, di chứng của chiến tranh lại trở thành thử thách đối với bản lĩnh người cựu binh đã từng vào sinh ra tử. Vì ảnh hưởng của chất độc da cam từ người cha đã nhiễm trong chiến tranh mà đến nay, con gái ông dù đã ngoài 40 tuổi nhưng vẫn như một đứa trẻ lên ba, không thể nhận thức gì.
Năm 1982 ông nghỉ hưu, do ảnh hưởng từ những ngày tháng chiến đấu gian khổ và những trận đòn trong lao tù khiến sức khỏe suy yếu. Dù vậy, người cựu binh với 53 năm tuổi Đảng vẫn nhận nhiệm vụ công tác ở ban liên lạc huyện Mê Linh và được Nhà nước trao tặng nhiều bằng khen, huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì.
Gần 50 năm trôi qua, Thành cổ Quảng Trị đã ngát xanh bởi cây cỏ, nhưng dưới những rặng cỏ xanh ấy là linh hồn của biết bao chiến sĩ đồng đội của ông Dong. Những năm tháng chiến đấu oanh liệt đó giờ trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc ông sống đẹp, luôn phát huy bản lĩnh anh bộ đội Cụ Hồ, không ngừng cống hiến, xây dựng quê hương đất nước ngày càng phát triển.
Tiễn chúng tôi ông Dong nhắc đến 2 câu thơ của Lê Bá Dương, một cựu chiến binh quân giải phóng miền Nam từng tham gia trận đánh Thành cổ Quảng Trị huyền hoại, lời như nhắc nhở, tự hào. “Một khẩu súng giữ hai trời Nam – Bắc/ Một dấu chân in màu đất hai miền”.
