Hành trình qua những địa danh
Các nhà nghiên cứu luận giải, từ khi vua Lê Thánh Tông ban sắc lập Thừa tuyên Quảng Nam (năm 1471), danh xưng Quảng Nam chính thức hiện hữu trong lịch sử nước nhà.

Một góc Hội An nhìn từ trên cao. Ảnh: Tư liệu
Để mảnh đất này định vị thành “xứ Quảng quê mình”, là cả một chặng dài biến động, đi qua từng địa danh cơ sở, chôn đặt hồn cốt mà ghi dấu trong lòng người.
Ghi mốc lịch sử bằng địa danh
Quá trình định hình mảnh đất Quảng Nam gắn với một chuỗi dài xương máu dựng nước và giữ đất. Bước chân Nam tiến của người Việt trong hai triều đại cuối Lê - Nguyễn đầy gai góc, và giằng co với từng tấc đất có được.
Trong đó, triều Nguyễn từ những ngày đầu của các chúa, đến sau khi định đô ở Thuận Hóa, luôn cần trấn áp sự đối chọi của các lực lượng kháng cự; nên các dinh trấn, huyện lỵ đều được cân nhắc “co giãn” tùy thời sự biến động. Điều quan trọng, là ý chí nhất thống giang sơn của triều đình luôn biểu hiện với các địa danh được giữ vững, đặc biệt ở vùng Quảng Nam.
Các nhà nghiên cứu nhìn nhận, những thay đổi địa danh chỉ có phát triển, chứ không co cụm; và ít sự hoán đổi trong lịch sử hình thành. Nghĩa là khi trị an được một khu vực, triều đình luôn đặt một cái tên mang tính nhất thống, cái tên đó sẽ luôn được giữ nguyên, cho đến khi mở rộng thành cấp địa chính lớn hơn, mới có thể chuyển qua đặt tên mới.
Những địa danh Quảng Nam, gồm cả những làng xã cơ bản nhất, thể hiện rõ thái độ an bang thịnh thế của chính quyền quản lý; và mốc lịch sử hình thành chính là kết quả từng kế hoạch phát triển cương giới, xác lập chủ quyền.
Cụ thể, tam giác trấn giữ đất Điện Bàn - Hội An - Đà Nẵng thể hiện tinh thần tương tác của một vùng đất phát triển hướng về nam: Hội An càng mang nghĩa bình yên văn hóa đến đâu, thì Điện Bàn sẽ càng thể hiện tinh thần quyết liệt tấn tới đến đó, và Đà Nẵng là vùng hậu cần hậu thuẫn phía sau.
Từ Điện Bàn, đến Duy Xuyên, rồi Chu Lai, đều là những cái tên thể hiện một tầm vươn tới, vừa trấn giữ, vừa khao khát vượt thêm.
Nghĩa tình tên đất, tên làng
TS Trần Đình Hằng (Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế) chia sẻ, có một thực tiễn phải ghi nhận, là tên đất, tên làng của cả miền Trung được hình thành trong lịch sử theo “dòng quy tắc” liên quan đến bước chân mở cõi. Quảng Nam là vùng đất nảy sinh nhiều tranh chấp nhất, nên các địa danh hình thành lại càng liên quan lộ trình hình thành danh xưng ấy.
Đó là ban đầu, những quân đoàn người Việt lập làng đặt tên đất để tiện giao thoa với cư dân bản địa vốn sử dụng tên gọi địa phương. Quảng Nam vì thế có nhiều vùng đất mang ngữ âm Chămpa.
Sau đó, nhớ quê cũ, muốn định vị quê hương mới, người dân đặt tên làng xã với những tên gọi thuần Nôm, rất mộc mạc, gắn chặt với sinh hoạt của họ, “thấy gì gọi đó”.
Về sau, khi địa danh được quản lý, triều Nguyễn đã tiến hành đặt lại tên các làng xã với từ ngữ hoa mỹ hơn, dùng từ Hán Việt cho sâu sắc. Những tên gọi mới này nghe sang trọng hơn, ví dụ thay cho Khe Tre, sẽ gọi là Trúc Khê.
Có điều, dù đặt lại hay giữ nguyên, yếu tố cảm xúc ở người dân bản xứ vẫn là quyết định đối với danh xưng làng xã. Vùng đất Quảng Nam lại càng dày đặc những tên gọi như vậy, từ một cồn đất, khu ruộng, cho đến một làng mới lập, huyện nên hình.
“Phải chăng qua từng cuộc chinh chiến máu lửa, người ta đã mang cảm xúc yêu thương, tình nghĩa với đồng đội anh em, mà chọn từng doi đất, ngôi mộ để gọi tên. Qua thời gian ổn định, những cái tên ấy càng gắn chặt thêm những kỷ niệm, câu chuyện thăng trầm mà thêm sâu sắc, thêm thấm nhuần lòng người để không thay đổi”, TS Hằng nhận xét.
Theo các nhà nghiên cứu, để kiểm lại hệ thống làng xã Quảng Nam, họ phải dựa vào các cứ liệu văn bản, bi ký.
Ban đầu, các làng xã sẽ tra cứu qua những văn bản như Ô Châu cận lục; đến triều Lê sẽ dùng dữ liệu từ Phủ biên tạp lục; cuối cùng ở triều Nguyễn là các sử ký, văn bản, như Đại Nam nhất thống toàn đồ… Hỗ trợ thêm, có thể dùng những dữ liệu tra soát, như Minh Mệnh tấu nghị hay các văn bản tham tấu trong triều Nguyễn.
Tất cả dữ liệu ấy, đều lưu ý phần tên chữ Nôm ban đầu, diễn đạt rất rõ tình cảm con người quê hương. Mãi cho đến nay, điều này vẫn được người dân Quảng Nam duy trì một cách tự giác, không suy luận; và họ như cảm được những thông điệp như vô hình ẩn chứa sau những tên gọi làng xã như vậy.
“Người Quảng vốn có tính khí quật cường, và những địa danh của họ gắn bó với tính khí ấy. Những sự việc, con người đã hiện hữu ở mảnh đất này luôn biểu hiện đúng nghĩa tinh thần “Hại dân, dân đái ngập mồ/ Thương dân, dân lập đền thờ vạn năm”. Thấy được sự khác biệt của những cái tên nôm na cũ, như Bàu Ấu, Nồi Rang, Bến Ván, Đá Ngang, Chợ Quán, Bà Bồi, Bà Mã, Bãi Ổ so với những cái tên tương ứng về sau như Hữu Trinh, Phương Trì, An Tân, Thạch Bích, An Quán…, chúng ta càng hiểu rõ hơn tình cảm ấm áp của con người đất Quảng, gắn kết cùng lịch sử khai phá cương thổ nước nhà, dựng làng lập đất với niềm tin sâu sắc vào tương lai; và vì sao tự nhiên trong từng câu hát lời thơ phát sinh nơi đây, người dân luôn trìu mến gọi lên cụm từ đất Quảng quê mình”, TS. Trần Đình Hằng nhấn mạnh.
Trong bối cảnh thay đổi, hợp nhất đơn vị hành chính mới hôm nay, nên chăng câu chuyện về nguồn gốc những địa danh làng xã ở đất Quảng rất cần được nhắc lại, cần được đánh giá, rà soát để cân nhắc điều chỉnh, tái hiện hoặc tôn vinh.
Bởi ở sau những âm tiết gọi tên quê nhà nghe thô mộc bình dân ấy, khí phách con người đất Quảng mấy trăm năm lại hiện lên lồ lộ, đằm thắm mà cương liệt, đơn giản nhưng thâm trầm: “Sông Thu Bồn chảy về cửa Đại/ Lạch Bình Long chảy mãi ra Hàn/ Ai về Đà Nẵng, Hội An/ Cho ta nhắn gởi vài hàng tâm tư”.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/hanh-trinh-qua-nhung-dia-danh-3321554.html











