Giữ đà cho FDI năm 2027
Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh trong 8 tháng năm 2026, vốn thực hiện đạt mức cao nhất cùng kỳ 5 năm. Để giữ đà tăng trong năm 2027, yêu cầu đặt ra là tiếp tục cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, đồng thời chuyển mạnh từ thu hút vốn sang nâng cao chất lượng và sức lan tỏa của FDI.
Vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm
Theo Cục Thống kê, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 8 tháng đạt 40,6 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ.
Trong 8 tháng qua, Việt Nam đã cấp phép 2.771 dự án FDI mới, với tổng vốn đăng ký 21,72 tỷ USD; tăng 9,4% về số dự án và 96,8% về vốn so với cùng kỳ. Công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với 12,15 tỷ USD, chiếm 55,9% tổng vốn đăng ký mới; tiếp đến là sản xuất và phân phối điện, khí, nước, điều hòa với 3,13 tỷ USD, chiếm 14,4%.

Triển vọng FDI năm 2027 phụ thuộc lớn vào chất lượng cải cách. Ảnh: VC
Không chỉ vốn đăng ký tăng, lượng vốn thực tế đưa vào nền kinh tế cũng đạt mức cao. Vốn FDI thực hiện trong 8 tháng ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% và là mức cao nhất của cùng kỳ trong 5 năm qua. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14,24 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn FDI thực hiện.
Từ kết quả thực tế năm 2026 và đánh giá các yếu tố trong nước, quốc tế, TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, cho rằng, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để hướng tới mục tiêu FDI đăng ký 40 - 50 tỷ USD mỗi năm và vốn thực hiện 30 - 40 tỷ USD/năm trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý không nhất thiết phải chạy đua theo tốc độ tăng trưởng vốn FDI. Thay vào đó, điều quan trọng là nâng cao chất lượng dòng vốn và khả năng lan tỏa vào nền kinh tế trong nước, đưa ra ba kịch bản đối với dòng vốn FDI năm 2027.
Chuyển từ thu hút vốn sang tạo năng lực
Để đạt mục tiêu đề ra, TS. Nguyễn Anh Tuấn cho rằng Việt Nam cần sớm triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp tại Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trước hết là hoàn thiện thể chế.
Theo đó, cần sớm thể chế hóa các quan điểm của Nghị quyết 10, tạo cơ sở pháp lý để từng bước chuyển từ ưu đãi đầu tư truyền thống theo đầu vào sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án, nhất là chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước, nâng tỷ lệ nội địa hóa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Các bộ, ngành cần phối hợp xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cụ thể, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế, làm cơ sở cho việc thực thi cơ chế hỗ trợ theo kết quả.
Cùng với cải cách thể chế, yêu cầu quan trọng là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư. Những điểm nghẽn về thủ tục đầu tư, quỹ đất sạch, thuế, hải quan, đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cần được tháo gỡ kịp thời. Khả năng cung cấp năng lượng sạch cũng ngày càng trở thành điều kiện quan trọng để thu hút các dự án công nghệ cao, nhất là trung tâm dữ liệu và công nghiệp bán dẫn.
Một yêu cầu khác là tăng cường giám sát tuân thủ quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa do doanh nghiệp FDI sản xuất tại Việt Nam, nhất là trong các ngành điện tử, máy móc thiết bị, gỗ, thép, dệt may, da giày, song song với tiến trình đàm phán Thỏa thuận thương mại đối ứng với Hoa Kỳ. Theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, bảo đảm tiêu chí “xuất xứ Việt Nam” cũng là cơ hội để nâng tỷ lệ nội địa hóa, thúc đẩy sự lan tỏa của khu vực FDI tới doanh nghiệp trong nước.
Việt Nam đồng thời cần sớm xây dựng hệ sinh thái đầu tư nước ngoài đồng bộ, gắn với xây dựng trung tâm tài chính (IFC) tại TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và phát triển các khu thương mại tự do. Chính quyền địa phương cần đổi mới công tác xúc tiến đầu tư, nâng chất lượng danh mục dự án trọng điểm và lựa chọn đối tác phù hợp với từng dự án. Vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề cũng cần được phát huy trong góp ý chính sách, xúc tiến đầu tư và kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
Cùng cách tiếp cận này, Kiến nghị chính sách quý III/2026 của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) đề xuất chuyển chính sách FDI từ thu hút vốn sang tạo năng lực. Theo đó, lựa chọn dự án cần phù hợp với chiến lược phát triển; ưu đãi gắn với nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo, liên kết nhà cung cấp, chuyển giao tiêu chuẩn và gia tăng giá trị trong nước.
Đối với các dự án chiến lược, NEU đề xuất cần có kế hoạch phát triển nhà cung cấp, đào tạo kỹ sư, R&D, liên kết viện - trường, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và tạo giá trị gia tăng trong nước. Các ưu đãi bổ sung chỉ được giải ngân khi kết quả được xác nhận. Riêng chuyển giao công nghệ cần được thiết kế phù hợp với cam kết quốc tế và thực tế đàm phán. Thay vì những yêu cầu mang tính áp đặt, chính sách nên ưu tiên cơ chế đồng phát triển, đào tạo, chuyển giao tiêu chuẩn, tạo đơn hàng và liên doanh tự nguyện có lợi cho các bên.
Cách tiếp cận này đặt ra một thước đo cao hơn đối với hiệu quả của FDI. Quy mô vốn vẫn quan trọng, nhưng giá trị lâu dài nằm ở công nghệ, nhân lực, năng lực của nhà cung cấp trong nước và phần giá trị gia tăng được giữ lại trong nền kinh tế.
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/giu-da-cho-fdi-nam-2027-10429970.html
