Gìn giữ mạch nguồn dân tộc – Bài 2: Hồn tiếng Việt trong kỷ nguyên số
Với trẻ em gốc Việt sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, khi bước ra khỏi không gian gia đình, các em chủ yếu sống bằng ngôn ngữ sở tại ở trường học, trong giao tiếp và ngày càng nhiều trên môi trường số. Khoảng cách giữa việc “biết tiếng Việt” và thực sự sử dụng tiếng Việt vì thế trở thành thách thức mới.

Cô Nguyễn Thị Liên Hương, Giảng viên tại Đại học Đài Loan (Trung Quốc) tại Lễ trao giải Sứ giả Tiếng Việt ở nước ngoài năm 2026. Ảnh: TTXVN phát
Nghị quyết 23-NQ/TW đặt yêu cầu phát huy vai trò cộng đồng trong gìn giữ tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc; Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số, đồng thời coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực mới cho phát triển văn hóa. Trao truyền tiếng Việt trong bối cảnh mới vì thế không chỉ là giữ lại phương thức cũ mà cần tạo ra cách tiếp cận phù hợp với thế hệ trẻ.
Đưa tiếng Việt vào thế giới của trẻ
Tại Australia, nền tảng VietNEST được xây dựng từ thực tế khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ của trẻ em gốc Việt còn khoảng cách đáng kể so với trẻ em trong nước. Theo số liệu dự án dẫn ra, khoảng 68,8% trẻ có thể giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, chưa đến 14% có vốn từ vựng tương đương trẻ em trong nước và chỉ 36% gia đình chủ động tạo “không gian tiếng Việt” hằng ngày.
VietNEST tìm cách trả lời bằng chính những công cụ quen thuộc với thế hệ trẻ. Nền tảng kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI), trò chơi tương tác và nội dung trực quan; AI hỗ trợ nhận diện giọng nói, luyện phát âm, cá nhân hóa lộ trình học, trong khi các video về Tết, phở Hà Nội hay danh lam thắng cảnh giúp bài học gắn với hình ảnh cụ thể của văn hóa Việt Nam.

Tủ sách tiếng Việt tại chùa Phật Tích thủ đô Viêng Chăn, nơi lan tỏa văn hóa và ngôn ngữ Việt tại Lào. Ảnh: Đỗ Bá Thành/PV TTXVN tại Lào
Điểm đáng chú ý không chỉ là đưa công nghệ vào lớp học mà là thay đổi cách tiếp cận. Khi tiếng Việt được đặt trong trò chơi, câu chuyện và hình ảnh, trẻ có thể học bằng trải nghiệm thay vì cảm giác đang thực hiện một nhiệm vụ.
Công nghệ có thể mở rộng cách tiếp cận nhưng không thay thế người thầy, gia đình và cộng đồng.
Tại vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc), thực tế hoạt động dạy học còn phân tán, thiếu kết nối cho thấy phương pháp giảng dạy tiếng Việt ở nước ngoài không thể đơn giản sao chép mô hình trong nước mà cần tính đến đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và môi trường sống của người học.
Đây cũng là tinh thần phù hợp với Nghị quyết 80-NQ/TW khi nhấn mạnh xử lý hài hòa mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, bảo tồn và phát triển, đời sống thực và không gian số; chủ động thích ứng với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển văn hóa. Từ đó, kết nối đội ngũ những người trực tiếp trao truyền tiếng Việt trở thành yêu cầu quan trọng.
Tháng 9/2025, Mạng lưới Giảng dạy tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam toàn cầu ra mắt tại Fukuoka, Nhật Bản, kết nối giáo viên, học viên từ 30 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mạng lưới tạo điều kiện chia sẻ phương pháp, kinh nghiệm và cách giải quyết những khó khăn đặc thù của từng cộng đồng. Từ đó hình thành những ý tưởng như “Bản đồ các lớp tiếng Việt trên toàn thế giới”, nhằm định vị lớp học, số hóa học liệu và tăng cường kết nối cộng đồng.
Tạo “Hệ sinh thái tiếng Việt”
Sự đổi mới còn thể hiện ở việc mở rộng không gian học tập. Tại Malaysia, mô hình kết hợp trực tiếp và trực tuyến giúp con em kiều bào tiếp cận lớp học thuận tiện hơn. Tại Cộng hòa Séc, các sáng kiến dạy trực tuyến hướng tới trẻ em khó tiếp cận lớp học trực tiếp.
Ở nhiều nơi, học tiếng Việt được kết hợp với hoạt động văn hóa. Tại Lào, các hội thi “Em yêu tiếng Việt” kết hợp kiến thức với hát, múa, đọc thơ và tìm hiểu văn hóa; tại Belarus, trại hè lồng ghép học tiếng Việt với kể chuyện, làm thủ công và giao lưu; ở Sri Lanka, lớp tiếng Việt mở cửa cho cả người bản địa.

Trụ trì Chùa Phật Tích thủ đô Viêng Chăn giới thiệu về tủ sách. Ảnh: Xuân Tú/PV TTXVN tại Lào
Những cách làm ấy cùng gợi mở một hướng tiếp cận: tiếng Việt muốn được trao truyền bền vững cần trở thành một phần của đời sống, chứ không chỉ là một môn học.
Một đứa trẻ có thể học từ mới trong lớp nhưng ghi nhớ lâu hơn khi từ ấy xuất hiện trong câu chuyện gia đình, bài hát hay trò chơi. Một học sinh có thể luyện phát âm trên nền tảng số nhưng có động lực sử dụng tiếng Việt khi có người thân để trò chuyện, bạn bè để giao lưu và cộng đồng để thuộc về. Vì thế, “hệ sinh thái tiếng Việt” cần được hình thành từ nhiều không gian: gia đình, lớp học, thư viện, hoạt động cộng đồng, chương trình văn hóa và nền tảng số. Đây cũng là cách cụ thể hóa yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số của Nghị quyết 80-NQ/TW.
Để tiếng Việt trở thành nhu cầu tự nhiên
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Thuyết, Chủ biên bộ sách “Vui học tiếng Việt”, nhấn mạnh với trẻ em, một ngôn ngữ chỉ thực sự bén rễ khi mang lại niềm vui và chạm được vào cảm xúc. Vì vậy, đổi mới việc dạy tiếng Việt ở nước ngoài không đơn thuần là thay giáo trình hay bổ sung công nghệ mà là thay đổi cách tạo động lực cho người học.

Nhóm Tuổi trẻ Việt chụp ảnh lưu niệm sau khi kết thúc sự kiện, ngày 7/9. Ảnh: TTXVN phát
Mục tiêu cuối cùng không phải tạo ra những đứa trẻ vượt qua một bài kiểm tra tiếng Việt, mà là những người trẻ có thể sử dụng tiếng Việt trong đời sống và cảm thấy ngôn ngữ ấy thuộc về mình. Điều này đòi hỏi sự linh hoạt về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và công nghệ hỗ trợ. Nhưng bên dưới những thay đổi ấy vẫn là con người. Không phần mềm nào thay thế sự kiên nhẫn của người mẹ khi sửa từng thanh điệu cho con; cũng không thuật toán nào tạo ra cảm giác gắn bó khi một đứa trẻ nhận ra hình ảnh gia đình, ông bà và quê hương trong một câu chuyện tiếng Việt.
Công nghệ có thể mở rộng không gian tiếp cận; giáo viên truyền cảm hứng; cộng đồng tạo môi trường; gia đình duy trì thói quen. Khi những yếu tố ấy được kết nối, tiếng Việt không còn bị giới hạn trong vài giờ học cuối tuần mà trở thành một phần tự nhiên trong đời sống thế hệ trẻ.
Từ những nỗ lực trao truyền trong cộng đồng người Việt, một không gian rộng hơn đang mở ra: tiếng Việt không chỉ được học để giữ gìn cội nguồn mà ngày càng được người nước ngoài tìm hiểu, sử dụng và nghiên cứu như một cách tiếp cận Việt Nam.
Hành trình vì thế chuyển từ gìn giữ đến trao truyền, và mở đường cho tiếng Việt lan tỏa ra thế giới.

