Giải pháp nào chặn gian lận thi cử?
Việc một giáo viên trường chuyên tại Tuyên Quang bị tạm giữ hình sự vì những bất thường trong điểm thi môn Toán một lần nữa làm rúng động dư luận. Nhìn lại chặng đường hai mươi năm qua, cuộc chiến chống tiêu cực thi cử vẫn chưa đi đến hồi kết.
Đầu tháng 7/2026, dư luận xã hội lại xáo động trước dải điểm 10 môn Toán bất thường tại một tỉnh miền núi phía Bắc. Trong số 328 số báo danh liên tiếp của học sinh Trường THPT chuyên Tuyên Quang, có tới 147 bài đạt điểm tuyệt đối. Sự việc nhanh chóng vượt qua ranh giới của một nghi vấn học thuật khi cơ quan chức năng quyết định tạm giữ hình sự một giáo viên của trường để phục vụ điều tra.

Công an tỉnh Tuyên Quang thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hà Duy, giáo viên Trường THPT Chuyên Tuyên Quang. Ảnh: Công an tỉnh Tuyên Quang.
Động thái quyết liệt này phản ánh một thực tế đáng buồn: gian lận thi cử không còn dừng ở những chiếc phao thi giấu trong túi áo học trò mà đã len sâu vào hệ thống với sự tiếp tay của chính những người có trách nhiệm bảo vệ sự công bằng. Nhìn lại hai mươi năm qua, từ Phú Xuyên A năm 2006, Đồi Ngô năm 2012, đại án Hà Giang năm 2018 đến nghi vấn ở Tuyên Quang hôm nay, chúng ta đang chứng kiến một vòng lặp quen thuộc: tiêu cực bị phát hiện, hệ thống xử lý, một số cá nhân bị kỷ luật, rồi vài năm sau lại xuất hiện một phương thức gian lận tinh vi hơn.
Câu chuyện bắt đầu từ mùa hè năm 2006 tại Hội đồng thi THPT Phú Xuyên A (Hà Tây cũ). Khi ấy, thầy giáo Đỗ Việt Khoa đã dũng cảm ghi lại cảnh giám thị buông lỏng nhiệm vụ để nhân viên nhà trường đưa lời giải vào phòng thi. Lần đầu tiên, tiêu cực thi cử được phơi bày bằng những hình ảnh không thể chối cãi, buộc toàn ngành giáo dục phải nhìn thẳng vào sự thật.
Hệ quả là sự ra đời của cuộc vận động “hai không” với mục tiêu nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích. Chỉ thị số 33 của Thủ tướng khi đó đặt ra yêu cầu siết chặt kỷ cương, chấm dứt tình trạng chạy theo tỷ lệ tốt nghiệp.
Nhưng kỳ vọng ấy nhanh chóng đối mặt với thực tế. Năm 2012, vụ gian lận tại Trường THPT dân lập Đồi Ngô (Bắc Giang cũ) cho thấy tiêu cực đã được tổ chức bài bản hơn. Giám thị tập trung giải đề, photo thu nhỏ rồi đưa đáp án vào phòng thi. Đoạn clip quay bằng bút camera của hai học sinh trở thành chứng cứ dẫn đến việc xử lý 42 cán bộ, giáo viên. Hệ thống đã biết bảo vệ người tố giác, nhưng bản chất của căn bệnh gian lận vẫn không thay đổi.
Đến năm 2018, vụ sửa điểm tại Hà Giang, Sơn La và Hòa Bình đánh dấu bước chuyển từ gian lận thủ công sang gian lận công nghệ. Khi kỳ vọng công nghệ sẽ hạn chế can thiệp chủ quan, thì chính dữ liệu trên máy tính lại bị thao túng. Vụ án Vũ Trọng Lương cho thấy một thực tế: nếu động cơ gian lận còn tồn tại thì công nghệ chỉ làm thay đổi phương thức, chứ không loại bỏ được tiêu cực.
Năm 2026, câu chuyện Tuyên Quang tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo. Việc một giáo viên từng được truyền thông ca ngợi bị tạm giữ hình sự cho thấy cơ quan điều tra đã phát hiện những dấu hiệu vượt xa một sai sót kỹ thuật thông thường. Điều đáng lo ngại hơn là niềm tin của xã hội vào sự công bằng của các kỳ thi quốc gia một lần nữa bị thử thách.
Nhìn sang các quốc gia lân cận, đặc biệt là Trung Quốc, chúng ta có thể tìm thấy những kinh nghiệm đáng tham khảo trong việc bảo vệ tính nghiêm minh của các kỳ thi quốc gia. Từ năm 2015, Trung Quốc đã hình sự hóa các hành vi gian lận thi cử có tổ chức thông qua Tu chính án số 9 của Bộ luật Hình sự. Người tổ chức, mua bán đề thi, thi hộ, nhờ thi hộ hay cán bộ lợi dụng chức vụ để tiếp tay cho gian lận đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Quan điểm xuyên suốt của họ là: mối nguy lớn nhất không nằm ở thí sinh gian lận, mà ở những “nội gián” trong hệ thống, những người được giao bảo vệ sự công bằng nhưng lại trực tiếp phá vỡ nó.
Bên cạnh chế tài nghiêm khắc, Trung Quốc đầu tư mạnh cho công nghệ và cơ chế giám sát nhiều tầng. Đề thi được bảo mật như tài liệu mật quốc gia; toàn bộ quá trình vận chuyển, lưu trữ và bàn giao đều được kiểm soát chặt chẽ. Những năm gần đây, trí tuệ nhân tạo được sử dụng để phát hiện các hành vi bất thường của cả thí sinh lẫn giám thị, trong khi nhiều nền tảng công nghệ cũng tạm thời hạn chế các tính năng có thể bị lợi dụng để gian lận trong thời gian diễn ra kỳ thi.
Điểm đáng chú ý là trách nhiệm không chỉ dừng ở người trực tiếp vi phạm. Những cán bộ quản lý buông lỏng giám sát hoặc bao che sai phạm cũng bị xử lý nghiêm, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc công khai kết quả điều tra và bản án trở thành thông điệp mạnh mẽ nhằm củng cố niềm tin của xã hội vào sự nghiêm minh của pháp luật.
Tất nhiên, Việt Nam không thể sao chép nguyên mẫu cách làm của bất kỳ quốc gia nào. Nhưng kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy một nguyên tắc đáng suy ngẫm: muốn ngăn chặn gian lận thi cử phải kết hợp đồng bộ giữa pháp luật đủ sức răn đe, công nghệ hiện đại, cơ chế giám sát độc lập và trách nhiệm giải trình nghiêm minh. Chỉ khi mọi mắt xích trong quy trình thi cử được kiểm soát minh bạch và quyền lực được giám sát chặt chẽ, vòng lặp tiêu cực mới có thể bị cắt đứt.

Quy trình chấm thi cần có cơ chế kiểm tra chéo, kiểm toán độc lập và lưu vết điện tử ở tất cả các khâu (ảnh minh họa). Ảnh: TTXVN.
Nhưng bài học lớn nhất đối với Việt Nam không nằm ở công nghệ hay mức án, mà ở cải cách thể chế. Hai mươi năm qua cho thấy không thể giải quyết một cuộc khủng hoảng về đạo đức và quản trị chỉ bằng các chiến dịch hành chính.
Điều cần làm trước hết là luật hóa mạnh mẽ hơn các hành vi gian lận thi cử có tổ chức, coi đây là hành vi xâm phạm lợi ích quốc gia chứ không chỉ là vi phạm quy chế. Những cán bộ, giáo viên lợi dụng chức trách để can thiệp vào kết quả thi phải chịu chế tài nghiêm khắc hơn bởi họ chính là “nội gián” làm tổn hại nền giáo dục từ bên trong.
Quan trọng hơn, cần tách hoàn toàn quyền tổ chức thi, coi thi và chấm thi khỏi áp lực thành tích của địa phương. Một đơn vị không nên vừa tổ chức đào tạo, vừa chịu trách nhiệm đánh giá kết quả của chính mình. Cần tiến tới mô hình khảo thí độc lập hoặc giao các trường đại học, tổ chức khảo thí liên vùng đảm nhiệm những khâu quan trọng để triệt tiêu xung đột lợi ích.
Cùng với đó là xây dựng hệ thống giám sát dữ liệu theo thời gian thực. Mọi phổ điểm, dữ liệu bất thường, biến động điểm số giữa các năm cần được công khai và phân tích bằng công nghệ để phát hiện sớm dấu hiệu bất thường thay vì chờ đến khi dư luận lên tiếng. Quy trình chấm thi cần có cơ chế kiểm tra chéo, kiểm toán độc lập và lưu vết điện tử ở tất cả các khâu.
Một mắt xích quan trọng khác là bảo vệ người tố giác. Nếu những người phát hiện tiêu cực vẫn đối mặt với nguy cơ bị cô lập hoặc trả thù thì rất khó có thêm những Đỗ Việt Khoa của thời đại mới. Cần có cơ chế pháp lý đủ mạnh để bảo vệ danh tính, vị trí công tác và quyền lợi của người dũng cảm lên tiếng.
Sau cùng, phải chấm dứt căn bệnh thành tích kéo dài nhiều thập niên. Khi tỷ lệ tốt nghiệp, số điểm 10 hay số giải học sinh giỏi vẫn là thước đo quan trọng để đánh giá địa phương và nhà trường thì áp lực làm đẹp thành tích sẽ luôn tồn tại. Muốn chống gian lận bền vững, phải thay đổi chính hệ thống đánh giá, chuyển từ chạy theo kết quả sang coi trọng chất lượng thực chất.
Hai mươi năm đã trôi qua kể từ Phú Xuyên A, nhưng vòng lặp tiêu cực thi cử vẫn chưa được cắt đứt. Vụ việc ở Tuyên Quang vì thế không chỉ là câu chuyện của một địa phương hay một giáo viên, mà là phép thử đối với quyết tâm cải cách của cả hệ thống. Chỉ khi kỷ cương được đặt lên trên thành tích, minh bạch được đặt lên trên lợi ích cục bộ và pháp luật được thực thi không có vùng cấm, niềm tin của xã hội vào sự công bằng của giáo dục mới thực sự được khôi phục.
Nguồn VietTimes: https://viettimes.vn/giai-phap-nao-chan-gian-lan-thi-cu-post189807.html












