Gia Lai chủ động thích ứng EUDR, mở đường cho cà phê bền vững

EUDR không chỉ là “tấm vé” để hạt cà phê tiếp tục có mặt tại châu Âu, đây còn có thể trở thành cú hích để ngành cà phê nâng giá trị, tiến sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Với hơn 100 nghìn ha cà phê và hàng trăm nghìn hộ dân tham gia sản xuất, việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu, hoàn thiện dữ liệu đất đai, định vị diện tích và xây dựng hệ thống truy xuất là bài toán không dễ. Nhưng nếu không làm, nguy cơ mất thị trường xuất khẩu lớn cũng hiện hữu. Đặc biệt, khi EU áp dụng Quy định chống mất rừng (EUDR), "cuộc chơi" với ngành cà phê đã chuyển sang một “luật” mới, muốn bán được hàng phải chứng minh được nguồn gốc.

Từ vườn cà phê đến dữ liệu vùng trồng

Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Gia Lai lần đầu vượt 1,5 tỷ USD. Chỉ trong 7 tháng năm 2026, mặt hàng này tiếp tục mang về 976,5 triệu USD, chiếm 41,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.

Sản phẩm cà phê của Gia Lai đã có mặt tại hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong bản đồ xuất khẩu ấy, EU vẫn là một trong những thị trường quan trọng nhất.

Sản phẩm cà phê của Gia Lai đã có mặt tại hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Sản phẩm cà phê của Gia Lai đã có mặt tại hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Theo quy định EUDR, các lô cà phê đưa vào thị trường EU phải chứng minh nguồn gốc hợp pháp và không được sản xuất trên diện tích đất có nguồn gốc từ việc phá rừng hoặc chuyển đổi rừng sau ngày 31/12/2020. Để đáp ứng yêu cầu, doanh nghiệp phải có khả năng truy xuất sản phẩm về khu vực sản xuất thông qua dữ liệu cụ thể.

Đối với những vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, đây là yêu cầu có thể từng bước đáp ứng. Nhưng với một ngành hàng mà phần lớn diện tích do nông hộ nhỏ lẻ canh tác như cà phê Gia Lai, khối lượng công việc phía trước rất lớn.

Không chỉ là chuyện hướng dẫn nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn, địa phương còn phải xây dựng dữ liệu vùng trồng, rà soát hiện trạng rừng, chuẩn hóa thông tin đất đai và tạo sự liên kết đủ chặt giữa nông dân, hợp tác xã, đại lý thu mua và doanh nghiệp xuất khẩu. 

Gia Lai đang chọn cách chuẩn bị từ sớm. UBND tỉnh Gia Lai đã thành lập Tổ công tác công tư về EUDR với sự tham gia của các sở, ngành, doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức quốc tế. Đây được xem là đầu mối phối hợp để xây dựng chuỗi cà phê bền vững, thay vì để từng doanh nghiệp tự xoay xở với những yêu cầu mới.

Ở cấp cơ sở, việc đưa EUDR đến với người trồng cà phê cũng được đẩy mạnh. Trung tâm Khuyến nông thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Dự án SAFE do Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) hỗ trợ đào tạo giảng viên nguồn về EUDR cho cán bộ kỹ thuật, doanh nghiệp và hợp tác xã. Từ lực lượng này, các lớp tập huấn tiếp tục được mở tại những vùng cà phê trọng điểm. Đến giữa tháng 7/2026, 57 lớp tập huấn đã được tổ chức tại 33 xã trọng điểm, với 1.710 lượt nông dân tham gia. Toàn chương trình dự kiến triển khai khoảng 105 lớp.

7 tháng năm 2026, xuất khẩu cà phê đạt 976,5 triệu USD, chiếm 41,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.

7 tháng năm 2026, xuất khẩu cà phê đạt 976,5 triệu USD, chiếm 41,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.

Nội dung tập huấn tập trung vào các yêu cầu của EUDR, nâng cao chất lượng cà phê, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, dữ liệu định vị và cách chứng minh diện tích sản xuất không hình thành từ việc phá rừng.

Doanh nghiệp không thể “đi một mình”

Thực tế tại vùng trồng cho thấy, khi có doanh nghiệp đứng cùng, nông dân không chỉ thay đổi để đáp ứng yêu cầu thị trường mà còn nhận lại những lợi ích cụ thể. Ông Uê, nhóm trưởng nhóm sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn 4C tại xã Đăk Đoa cho biết nhóm có 100 hộ với hơn 200 ha và đã liên kết với Công ty TNHH Vĩnh Hiệp từ năm 2015.

Theo ông Uê, trước đây nhiều hộ sản xuất theo kinh nghiệm, nhưng khi tham gia liên kết, bà con được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc theo tiêu chuẩn. Nhờ đó, năng suất đạt 4-5 tấn nhân/ha, trong khi phương pháp cũ chỉ khoảng 2 tấn. Doanh nghiệp cũng có chính sách cộng thưởng khoảng 200 đồng/kg khi thu mua so với giá thị trường.

Các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản cũng ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, truy xuất và trách nhiệm môi trường.

Các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản cũng ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, truy xuất và trách nhiệm môi trường.

Từ một yêu cầu của thị trường châu Âu, EUDR vì vậy đang tác động trực tiếp đến cách người dân chăm sóc từng vườn cây, ghi chép thông tin và tham gia vào chuỗi liên kết. Nếu vùng trồng là nơi bắt đầu của dữ liệu thì doanh nghiệp chính là mắt xích chịu trách nhiệm đưa những dữ liệu ấy đến thị trường.

Với Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, châu Âu hiện chiếm khoảng 60% trong tổng lượng cà phê xuất khẩu của doanh nghiệp. Mỗi năm, Vĩnh Hiệp xuất khẩu khoảng 160.000 tấn cà phê đến 58 quốc gia. Thị trường lớn cũng đồng nghĩa với yêu cầu lớn. Vĩnh Hiệp đã xây dựng mạng lưới sản xuất cà phê bền vững theo các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tập trung đáp ứng EUDR.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) cho rằng cách thị trường quốc tế nhìn nhận một sản phẩm đã thay đổi.

“Bây giờ không còn là bán sản phẩm nữa mà là bán với trách nhiệm”, ông Thái Như Hiệp nói, đồng thời cho rằng yêu cầu về chất lượng, môi trường, quản trị, kiểm dịch và xuất xứ đang buộc nông dân phải thay đổi phương thức sản xuất.

Theo ông Thái Như Hiệp, EUDR không phải câu chuyện riêng của doanh nghiệp xuất khẩu. Doanh nghiệp cần nông dân cung cấp dữ liệu vùng sản xuất; nông dân cần doanh nghiệp hướng dẫn và bảo đảm đầu ra; các đại lý, đơn vị thu mua phải trở thành cầu nối trong chuỗi.

Một doanh nghiệp dù đầu tư nhà máy hiện đại đến đâu cũng khó đáp ứng yêu cầu nếu không kiểm soát được nguồn nguyên liệu đầu vào. Đó cũng là lý do các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của Gia Lai đang tăng đầu tư cho vùng nguyên liệu song song với nâng cấp nhà máy.

Bên cạnh Vĩnh Hiệp, các doanh nghiệp như Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Hoa Trang Gia Lai, Công ty cổ phần Tín Thành Đạt, Công ty TNHH Thương mại và Chế biến Louis Dreyfus Company Việt Nam đều đầu tư hệ thống sơ chế, chế biến, kho chứa và đổi mới công nghệ.

Việc chuẩn hóa sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu bền vững không chỉ nhằm đáp ứng EU. Các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản cũng ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, truy xuất và trách nhiệm môi trường. Vì vậy, cuộc đua EUDR đang được nhìn nhận rộng hơn một quy định thương mại. Đó là phép thử đối với khả năng tổ chức lại ngành cà phê Gia Lai.

Từ chỗ quan tâm nhiều đến sản lượng, ngành hàng đang phải quan tâm sâu hơn đến chất lượng vùng nguyên liệu. Từ một vườn cà phê đơn lẻ, dữ liệu phải được kết nối thành vùng sản xuất. Từ người nông dân, doanh nghiệp và hợp tác xã phải hình thành một chuỗi đủ chặt để cùng chịu trách nhiệm về sản phẩm.

Theo ông Cao Thanh Thương, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai, đáp ứng EUDR là nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong giai đoạn hiện nay. Ông Thương cho rằng giá cà phê đang ở mức cao, giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích lớn, tạo động lực để người dân quan tâm hơn đến khoa học kỹ thuật và tham gia các chuỗi sản xuất bền vững.

Gia Lai đang có lợi thế lớn về quy mô vùng nguyên liệu và năng lực xuất khẩu. Nhưng để biến lợi thế ấy thành giá trị bền vững, bài toán không còn nằm ở việc trồng thêm bao nhiêu hecta cà phê, mà là làm thế nào để mỗi hecta đều có nguồn gốc rõ ràng, quy trình minh bạch và đủ điều kiện bước vào những thị trường khó tính. Khi đó, EUDR không chỉ là “tấm vé” thông hành để hạt cà phê Gia Lai tiếp tục có mặt tại châu Âu. Đây còn có thể trở thành cú hích để ngành cà phê nâng chuẩn sản xuất, nâng giá trị và tiến sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hiền Mai

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/gia-lai-chu-dong-thich-ung-eudr-mo-duong-cho-ca-phe-ben-vung-469941.html