GDP năm 2025 tăng 8,02% là bệ phóng cho kinh tế giai đoạn 2026 - 2030
Tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2025 đạt 8,02% được đánh giá là tín hiệu tích cực, tạo nền tảng quan trọng hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo. Phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) xoay quanh vấn đề này.

TS Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính).
Thưa Cục trưởng, kết quả tăng trưởng GDP năm 2025 phản ánh điều gì, và đâu là những động lực tăng trưởng chính?
Tính chung cả năm 2025, tăng trưởng kinh tế đạt 8,02%, hoàn thành mục tiêu kế hoạch. Kết quả này thể hiện nỗ lực vượt bậc của tất cả hệ thống chính trị, bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân. Nền tảng vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát trong giới hạn cho phép, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tiếp tục được duy trì hỗ trợ, giúp doanh nghiệp và người dân củng cố niềm tin, tạo dư địa thuận lợi cho phát triển kinh tế.
Quan sát diễn biến kinh tế qua từng quý cho thấy, tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 được hình thành trên cơ sở sự kết hợp của nhiều động lực. Trong đó các động lực truyền thống gồm đầu tư, sản xuất - xuất khẩu, tiêu dùng nội địa tiếp tục giữ vai trò quyết định đối với tăng trưởng, trong khi các động lực mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, cải cách thể chế bước đầu phát huy tác dụng mang tính hỗ trợ và tạo nền tảng cho tăng trưởng trung và dài hạn.
Đầu tư tiếp tục là động lực then chốt của nền kinh tế, trong đó đầu tư công đóng vai trò quan trọng dẫn dắt đầu tư tư nhân và FDI tiếp tục gia tăng. Việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án hạ tầng trọng điểm trong năm 2025 không chỉ thúc đẩy xây dựng, trực tiếp gia tăng tích lũy tài sản, mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các ngành sản xuất vật liệu và dịch vụ liên quan.
Sản xuất và xuất khẩu tiếp tục là trụ cột vững chắc của tăng trưởng, khẳng định năng lực cung ứng bền bỉ của Việt Nam. Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì đà tăng tốt, cho thấy sự phục hồi của hoạt động sản xuất và năng lực cung ứng trong nước . Bên cạnh đó, xuất khẩu vẫn tìm thấy cơ hội trong thách thức trước bối cảnh nền kinh tế phục hồi chậm, chính sách bảo hộ gia tăng và các rào cản thuế quan khắt khe đặc biệt là chính sách thuế đối ứng của Mỹ đối với hàng hóa Việt Nam.
Tiêu dùng nội địa có xu hướng cải thiện, góp phần hỗ trợ tăng trưởng. Thói quen mua sắm đang dần thay đổi với xu hướng mua sắm trực tuyến tăng mạnh, tiêu dùng hướng đến trải nghiệm và chất lượng thay vì chỉ mua sắm hàng hóa v.v… Mặc dù vậy, mức tăng tiêu dùng chưa thật sự mạnh và còn phân hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư, phản ánh sức mua của nền kinh tế đã phục hồi nhưng chưa hoàn toàn vững chắc, nhất là trong điều kiện chi phí sinh hoạt và áp lực tài chính của doanh nghiệp, hộ gia đình vẫn hiện hữu.
Kinh tế số tiếp tục mở rộng và lan tỏa vào nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, từ thương mại, tài chính đến logistics và dịch vụ công. Trong năm 2025, đóng góp giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt 14,02%, đây tiếp tục là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng không gian tăng trưởng và cải thiện năng suất trong trung hạn.
Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo được thúc đẩy mạnh hơn, đặc biệt trong một số ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao. Dù vậy, tác động đến tăng trưởng kinh tế năm 2025 mới ở giai đoạn đầu, chưa tạo ra sự thay đổi rõ nét về tốc độ tăng trưởng, mà chủ yếu thể hiện ở việc cải thiện dần chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng.
Cải cách thể chế góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Tuy nhiên, hiệu quả của cải cách thể chế thường có độ trễ, do đó tác động tích cực trong năm 2025 chủ yếu mang tính hỗ trợ và tạo dư địa cho tăng trưởng trong các năm tiếp theo.
Có thể khẳng định rằng, tăng trưởng kinh tế năm 2025 là kết quả của sự cộng hưởng giữa phục hồi cầu trong nước, vai trò dẫn dắt của đầu tư, đặc biệt là đầu tư công, cùng với sự cải thiện của khu vực sản xuất và dịch vụ, xuất khẩu trong bối cảnh kinh tế vĩ mô ổn định. Những kết quả này không chỉ phản ánh nỗ lực điều hành quyết liệt của Chính phủ mà còn tạo tiền đề quan trọng cho việc bước vào giai đoạn phát triển 2026 - 2030 với mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.

Năm 2025, kinh tế vĩ mô giữ ổn định, lạm phát được kiểm soát.
Theo bà, nguyên nhân nào giúp Việt Nam kiểm soát được lạm phát năm 2025 và rủi ro lạm phát năm 2026 là gì?
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025 tăng 3,31% so với năm 2024, như vậy Việt Nam đã thành công trong việc kiểm soát được lạm phát ở mức thấp hơn mục tiêu Quốc hội đề ra. Đạt được kết quả như vậy là nhờ sự điều hành quyết liệt và linh hoạt của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương.
Cụ thể, sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, điều hành linh hoạt lãi suất, tỷ giá, tăng trưởng tín dụng hợp lý, vừa hỗ trợ sản xuất kinh doanh, vừa không tạo áp lực lên mặt bằng giá. Việc điều hành giá các mặt hàng Nhà nước quản lý thận trọng theo lộ trình, nhất là các lĩnh vực như giáo dục, y tế, điện sinh hoạt, hạn chế cú sốc giá và tác động lan tỏa. Nguồn cung hàng hóa trong nước được bảo đảm, đặc biệt là lương thực, thực phẩm và hàng hóa thiết yếu; tăng cường bình ổn thị trường, dự trữ hàng hóa, hạn chế tình trạng khan hiếm cục bộ.
Bên cạnh đó, công tác quản lý thị trường, chống đầu cơ, gian lận thương mại được tăng cường, giúp hạn chế việc đẩy giá bất hợp lý. Thị trường ngoại hối ổn định, tỷ giá được điều hành linh hoạt, góp phần giảm áp lực nhập khẩu lạm phát từ bên ngoài.
Nhờ sự phối hợp chính sách hiệu quả, lạm phát năm 2025 tăng nhưng ở mức phù hợp, không gây biến động lớn đối với nền kinh tế và đời sống người dân và góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bước sang năm 2026, lạm phát vẫn tiềm ẩn một số rủi ro cần lưu ý như: Biến động giá năng lượng, nhiên liệu và hàng hóa trên thị trường thế giới vẫn khó lường; Chi phí logistics và vận tải quốc tế có thể tiếp tục ở mức cao, tác động tới chi phí sản xuất và giá thành hàng hóa; Xung đột địa chính trị, thiên tai và biến đổi khí hậu có thể gây gián đoạn nguồn cung, nhất là lương thực, thực phẩm; Nhu cầu tiêu dùng, sản xuất và đầu tư công tăng tốc sẽ tạo sức cầu lớn, có thể khiến mặt bằng giá nhích lên...
Do vậy, Chính phủ cần tiếp tục điều hành giá chủ động, thận trọng; bảo đảm cân đối cung - cầu; kiểm soát tốt tâm lý và kỳ vọng lạm phát để giữ ổn định kinh tế vĩ mô.

Đầu tư công tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng trong năm 2026.
Cục Thống kê đề xuất những giải pháp nào để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026 và những năm tiếp theo, thưa bà?
Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt là kết quả tích cực, cho thấy nội lực và khả năng thích ứng của nền kinh tế Việt Nam đang dần được củng cố. Đây là điểm tựa tốt cho tăng trưởng kinh tế trong năm 2026 và những năm sau. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới 2026 - 2030, kinh tế trong nước đứng trước nhiều thách thức bất định với nhiều cơ hội đan xen thách thức, việc duy trì và đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tiếp theo đòi hỏi sự nỗ lực vượt bực của cả nền kinh tế, đồng thời phải hội tụ đồng bộ nhiều điều kiện quan trọng, cả về nền tảng vĩ mô, nguồn lực tăng trưởng, chất lượng phát triển và năng lực điều hành chính sách.
Trước hết, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết. Việc kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn nợ công, duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế và điều hành chính sách tài khóa - tiền tệ theo hướng linh hoạt, thận trọng sẽ góp phần tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Thứ hai, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng giữ vai trò then chốt. Đầu tư công cần tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt, tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng then chốt, tăng cường giải ngân vốn đầu tư công đúng tiến độ, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn, tránh đầu tư giàn trải, lãng phí. Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi để khu vực đầu tư tư nhân phát triển, trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng. Việc thu hút đầu tư FDI cần được thực hiện theo hướng có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường và tăng cường liên kết với khu vực kinh tế trong nước.
Thứ ba, nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế cần chuyển dần từ mô hình dựa nhiều vào vốn và lao động sang mô hình dựa trên nâng cao năng suất, hiệu quả phân bổ nguồn lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.
Thứ tư, tạo đột phá về năng suất lao động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số, nhất là trong các ngành, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, qua đó gia tăng giá trị gia tăng và nâng cao chất lượng tăng trưởng; tăng cường đào tạo gắn với nhu cầu thị trường, nhất là khu vực kinh tế tư nhân và các ngành giá trị cao, để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Thứ năm, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của Nhà nước. Việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm tính minh bạch, ổn định và nhất quán của chính sách, cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách vĩ mô sẽ tạo nền tảng để các động lực tăng trưởng phát huy hiệu quả.
Tóm lại, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tiếp theo, cần bảo đảm đồng thời ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nâng cao chất lượng tăng trưởng, hoàn thiện thể chế và tăng cường khả năng thích ứng của nền kinh tế, qua đó bảo đảm tăng trưởng cao gắn với ổn định và phát triển bền vững trong trung và dài hạn.
Trân trọng cảm ơn bà về những trao đổi trên!












