Đổi mới mô hình phát triển, kiến tạo tương lai đất nước

(PLVN) - Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là yêu cầu về tăng trưởng kinh tế mà trước hết là đổi mới tư duy phát triển và phương thức quản trị. Trên tinh thần đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW có thể được xem là “bản thiết kế chiến lược”, kết nối các trụ cột, nguồn lực và động lực thành một hệ sinh thái phát triển thống nhất, hướng tới mục tiêu xây dựng một Việt Nam tự cường, sáng tạo và thịnh vượng.

Đổi mới mô hình phát triển, kiến tạo tương lai đất nước

Nghị quyết 19-NQ/TW hướng tới mục tiêu xây dựng mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. (Ảnh minh họa: Hùng Thập) (PLVN) - Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là yêu cầu về tăng trưởng kinh tế mà trước hết là đổi mới tư duy phát triển và phương thức quản trị. Trên tinh thần đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW có thể được xem là “bản thiết kế chiến lược”, kết nối các trụ cột, nguồn lực và động lực thành một hệ sinh thái phát triển thống nhất, hướng tới mục tiêu xây dựng một Việt Nam tự cường, sáng tạo và thịnh vượng.

Thứ Hai 10/08/2026 07:04 (GMT+7)

Mở rộng không gian phát triển theo chiều sâu

Sau 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm; tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp…

Bước vào giai đoạn phát triển mới với định hướng “chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu, động lực và phát triển”, Việt Nam không chỉ cần những động lực mới từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn lực xã hội, mà còn đòi hỏi một nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, kiến tạo phát triển.

Tinh thần đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV “Về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam”. Một trong những điểm nhấn của Nghị quyết là xác lập một tư duy phát triển mới, mở rộng không gian phát triển, vượt ra khỏi những giới hạn của không gian hành chính truyền thống; đồng thời xác định thể chế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị quốc gia hiện đại là những động lực quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển của đất nước. Như Nghị quyết 19-NQ/TW nhấn mạnh: “Đổi mới mô hình phát triển trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia tạo ra năng lực phát triển mới”.

Tư duy này đang được cụ thể hóa trong định hướng phát triển Thủ đô Hà Nội. Tại phiên thảo luận tổ ngày 4/8, trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gợi mở cách tiếp cận khoa học về quy hoạch và tổ chức không gian phát triển. Theo đó, quy hoạch không chỉ giới hạn ở không gian trên mặt đất mà được mở rộng theo chiều sâu, với tầm nhìn 100 năm, tổ chức đồng bộ từ không gian mặt đất đến không gian ngầm; phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại như đường cao tốc, tàu điện ngầm, đường sắt đô thị, đồng thời hoàn thiện thể chế để pháp luật đi trước một bước, tạo nền tảng cho phát triển. Cùng với đó là yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành đô thị theo hướng hiện đại, thông minh, hiệu quả. Những gợi mở này không chỉ có ý nghĩa với Hà Nội mà còn có thể tham chiếu đối với quá trình quản trị và tổ chức không gian phát triển của nhiều đô thị trên cả nước trong giai đoạn tới.

Trong mô hình phát triển mới, bên cạnh việc tổ chức hợp lý không gian phát triển, tư duy về hạ tầng chiến lược cũng đang được đổi mới. Tại buổi làm việc về thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW và Kết luận số 72-KL/TW về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, hạ tầng không chỉ phục vụ cho sản xuất và đời sống mà đã trở thành một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, quy hoạch và phát triển hạ tầng phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển của đất nước, gắn với tổ chức không gian kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm đồng bộ giữa hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, hạ tầng số, dữ liệu khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, trong chặng đường phát triển mới, hạ tầng phải dám đảm nhận một sứ mệnh lớn hơn, tạo dựng một năng lực sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất và làm chủ công nghệ, tăng sức chống chịu và mở ra không gian phát triển mới cho đất nước.

Đổi mới sáng tạo trở thành động lực của toàn xã hội

Thực tiễn lịch sử của Việt Nam cho thấy, mỗi dấu mốc phát triển mới đất nước đều bắt nguồn từ sự đổi mới trong tư duy và phương thức quản trị. Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã tạo nên bước ngoặt lịch sử khi khởi xướng đường lối Đổi mới toàn diện, mở đường cho quá trình chuyển đổi mô hình phát triển, đổi mới cơ cấu nền kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế, tạo nên những thành tựu to lớn. Hôm nay, khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số và phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW đang định hình một hệ tư duy phát triển chiến lược cho đất nước. Đó là “đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái phát triển”, coi đây là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trong hệ sinh thái phát triển đó, các động lực mới phải được hình thành và phát huy đồng bộ, trong đó đổi mới sáng tạo giữ vai trò ngày càng quan trọng. Từ yêu cầu đó, đổi mới sáng tạo được đặt trong một cách tiếp cận mới. Đổi mới sáng tạo không còn là nhiệm vụ của riêng từng ngành, từng lĩnh vực, mà đòi hỏi hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo rộng khắp, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp, giới khoa học, các cơ sở đào tạo và người dân cùng tham gia sáng tạo, ứng dụng và lan tỏa tri thức. Quan điểm này cũng được thể hiện nhất quán trong các nghị quyết chiến lược của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị thời gian qua.

Mới đây, tại Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu, chuyển mạnh từ đổi mới sáng tạo trong một số lĩnh vực sang đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội. Đưa đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển của toàn xã hội, không chỉ là nhiệm vụ của các nhà khoa học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ. Điều đó có nghĩa, mỗi người dân đều có thể trở thành chủ thể đổi mới sáng tạo; mỗi doanh nghiệp phải coi đổi mới sáng tạo là điều kiện sống còn để phát triển; mỗi cán bộ phải có tư duy kiến tạo phát triển; mỗi ban, Bộ, ngành, địa phương phải trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực phụ trách. Lao động sáng tạo phải trở thành nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia trong tương lai... Đó cũng chính là sự chuyển dịch từ mô hình phát triển dựa chủ yếu vào tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và sức sáng tạo của con người.

Kết nối các chủ trương lớn, tạo sức mạnh cộng hưởng

Điểm đặc biệt của Nghị quyết số 19-NQ/TW không chỉ ở những định hướng mới về mô hình phát triển, mà còn ở khả năng kết nối, đồng bộ hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong tư duy kiến tạo tương lai đất nước.

Nhìn trong tổng thể các quyết sách lớn được Trung ương Đảng và Bộ Chính trị ban hành thời gian qua có thể thấy một mạch tư duy xuyên suốt: Đổi mới mô hình phát triển phải bắt đầu từ việc tạo dựng đồng bộ các nền tảng và động lực phát triển. Đó là xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả thông qua sắp xếp tổ chức và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu của tăng trưởng theo chiều sâu (Nghị quyết số 57-NQ/TW); xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, khoa học, minh bạch nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực theo Nghị quyết số 66-NQ/TW. Đồng thời phát huy giá trị văn hóa và con người - nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững theo Nghị quyết số 80-NQ/TW… Trên nền tảng của những định hướng chiến lược đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW tạo bước phát triển tiếp theo khi đặt các trụ cột về thể chế, quản trị, kinh tế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, văn hóa và con người… trong một chỉnh thể thống nhất, qua đó hình thành hệ sinh thái phát triển quốc gia.

Cụ thể, về thể chế và quản trị, Nghị quyết 19-NQ/TW yêu cầu đổi mới căn bản công tác xây dựng và triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng, bảo đảm thống nhất từ chủ trương đến hành động, từ mục tiêu đến kết quả. Về kinh tế, chuyển sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ đất liền - vùng biển - vùng trời - lòng đất - không gian số và các không gian phát triển mới. Về văn hóa, hướng tới xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển, có khả năng thích ứng và phục hồi trước các biến động…

Như vậy, đổi mới mô hình phát triển là một quá trình đổi mới đồng bộ từ tư duy đến hành động, từ thể chế, tổ chức bộ máy đến phương thức quản trị và huy động nguồn lực. Khi các chủ trương lớn của Đảng được triển khai trong một chỉnh thể thống nhất, các nguồn lực và động lực phát triển sẽ không còn vận hành rời rạc mà được kết nối, bổ trợ và tạo sức mạnh cộng hưởng. Đó chính là cách hình thành năng lực phát triển mới, đồng thời là tinh thần cốt lõi của yêu cầu đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái phát triển mà Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt ra.

Vân Anh

Mở rộng không gian phát triển theo chiều sâu

Sau 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm; tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp…

Bước vào giai đoạn phát triển mới với định hướng “chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu, động lực và phát triển”, Việt Nam không chỉ cần những động lực mới từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn lực xã hội, mà còn đòi hỏi một nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, kiến tạo phát triển.

Tinh thần đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV “Về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam”. Một trong những điểm nhấn của Nghị quyết là xác lập một tư duy phát triển mới, mở rộng không gian phát triển, vượt ra khỏi những giới hạn của không gian hành chính truyền thống; đồng thời xác định thể chế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị quốc gia hiện đại là những động lực quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển của đất nước. Như Nghị quyết 19-NQ/TW nhấn mạnh: “Đổi mới mô hình phát triển trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia tạo ra năng lực phát triển mới”.

Tư duy này đang được cụ thể hóa trong định hướng phát triển Thủ đô Hà Nội. Tại phiên thảo luận tổ ngày 4/8, trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gợi mở cách tiếp cận khoa học về quy hoạch và tổ chức không gian phát triển. Theo đó, quy hoạch không chỉ giới hạn ở không gian trên mặt đất mà được mở rộng theo chiều sâu, với tầm nhìn 100 năm, tổ chức đồng bộ từ không gian mặt đất đến không gian ngầm; phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại như đường cao tốc, tàu điện ngầm, đường sắt đô thị, đồng thời hoàn thiện thể chế để pháp luật đi trước một bước, tạo nền tảng cho phát triển. Cùng với đó là yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành đô thị theo hướng hiện đại, thông minh, hiệu quả. Những gợi mở này không chỉ có ý nghĩa với Hà Nội mà còn có thể tham chiếu đối với quá trình quản trị và tổ chức không gian phát triển của nhiều đô thị trên cả nước trong giai đoạn tới.

Trong mô hình phát triển mới, bên cạnh việc tổ chức hợp lý không gian phát triển, tư duy về hạ tầng chiến lược cũng đang được đổi mới. Tại buổi làm việc về thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW và Kết luận số 72-KL/TW về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, hạ tầng không chỉ phục vụ cho sản xuất và đời sống mà đã trở thành một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, quy hoạch và phát triển hạ tầng phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển của đất nước, gắn với tổ chức không gian kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm đồng bộ giữa hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, hạ tầng số, dữ liệu khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, trong chặng đường phát triển mới, hạ tầng phải dám đảm nhận một sứ mệnh lớn hơn, tạo dựng một năng lực sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất và làm chủ công nghệ, tăng sức chống chịu và mở ra không gian phát triển mới cho đất nước.

Đổi mới sáng tạo trở thành động lực của toàn xã hội

Thực tiễn lịch sử của Việt Nam cho thấy, mỗi dấu mốc phát triển mới đất nước đều bắt nguồn từ sự đổi mới trong tư duy và phương thức quản trị. Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã tạo nên bước ngoặt lịch sử khi khởi xướng đường lối Đổi mới toàn diện, mở đường cho quá trình chuyển đổi mô hình phát triển, đổi mới cơ cấu nền kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế, tạo nên những thành tựu to lớn. Hôm nay, khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số và phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW đang định hình một hệ tư duy phát triển chiến lược cho đất nước. Đó là “đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái phát triển”, coi đây là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trong hệ sinh thái phát triển đó, các động lực mới phải được hình thành và phát huy đồng bộ, trong đó đổi mới sáng tạo giữ vai trò ngày càng quan trọng. Từ yêu cầu đó, đổi mới sáng tạo được đặt trong một cách tiếp cận mới. Đổi mới sáng tạo không còn là nhiệm vụ của riêng từng ngành, từng lĩnh vực, mà đòi hỏi hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo rộng khắp, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp, giới khoa học, các cơ sở đào tạo và người dân cùng tham gia sáng tạo, ứng dụng và lan tỏa tri thức. Quan điểm này cũng được thể hiện nhất quán trong các nghị quyết chiến lược của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị thời gian qua.

Mới đây, tại Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu, chuyển mạnh từ đổi mới sáng tạo trong một số lĩnh vực sang đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội. Đưa đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển của toàn xã hội, không chỉ là nhiệm vụ của các nhà khoa học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ. Điều đó có nghĩa, mỗi người dân đều có thể trở thành chủ thể đổi mới sáng tạo; mỗi doanh nghiệp phải coi đổi mới sáng tạo là điều kiện sống còn để phát triển; mỗi cán bộ phải có tư duy kiến tạo phát triển; mỗi ban, Bộ, ngành, địa phương phải trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực phụ trách. Lao động sáng tạo phải trở thành nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia trong tương lai... Đó cũng chính là sự chuyển dịch từ mô hình phát triển dựa chủ yếu vào tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và sức sáng tạo của con người.

Kết nối các chủ trương lớn, tạo sức mạnh cộng hưởng

Điểm đặc biệt của Nghị quyết số 19-NQ/TW không chỉ ở những định hướng mới về mô hình phát triển, mà còn ở khả năng kết nối, đồng bộ hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong tư duy kiến tạo tương lai đất nước.

Nhìn trong tổng thể các quyết sách lớn được Trung ương Đảng và Bộ Chính trị ban hành thời gian qua có thể thấy một mạch tư duy xuyên suốt: Đổi mới mô hình phát triển phải bắt đầu từ việc tạo dựng đồng bộ các nền tảng và động lực phát triển. Đó là xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả thông qua sắp xếp tổ chức và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu của tăng trưởng theo chiều sâu (Nghị quyết số 57-NQ/TW); xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, khoa học, minh bạch nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực theo Nghị quyết số 66-NQ/TW. Đồng thời phát huy giá trị văn hóa và con người - nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững theo Nghị quyết số 80-NQ/TW… Trên nền tảng của những định hướng chiến lược đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW tạo bước phát triển tiếp theo khi đặt các trụ cột về thể chế, quản trị, kinh tế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, văn hóa và con người… trong một chỉnh thể thống nhất, qua đó hình thành hệ sinh thái phát triển quốc gia.

Cụ thể, về thể chế và quản trị, Nghị quyết 19-NQ/TW yêu cầu đổi mới căn bản công tác xây dựng và triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng, bảo đảm thống nhất từ chủ trương đến hành động, từ mục tiêu đến kết quả. Về kinh tế, chuyển sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ đất liền - vùng biển - vùng trời - lòng đất - không gian số và các không gian phát triển mới. Về văn hóa, hướng tới xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển, có khả năng thích ứng và phục hồi trước các biến động…

Như vậy, đổi mới mô hình phát triển là một quá trình đổi mới đồng bộ từ tư duy đến hành động, từ thể chế, tổ chức bộ máy đến phương thức quản trị và huy động nguồn lực. Khi các chủ trương lớn của Đảng được triển khai trong một chỉnh thể thống nhất, các nguồn lực và động lực phát triển sẽ không còn vận hành rời rạc mà được kết nối, bổ trợ và tạo sức mạnh cộng hưởng. Đó chính là cách hình thành năng lực phát triển mới, đồng thời là tinh thần cốt lõi của yêu cầu đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái phát triển mà Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt ra.

Vân Anh

(PLVN) - Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là yêu cầu về tăng trưởng kinh tế mà trước hết là đổi mới tư duy phát triển và phương thức quản trị. Trên tinh thần đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW có thể được xem là “bản thiết kế chiến lược”, kết nối các trụ cột, nguồn lực và động lực thành một hệ sinh thái phát triển thống nhất, hướng tới mục tiêu xây dựng một Việt Nam tự cường, sáng tạo và thịnh vượng.

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/doi-moi-mo-hinh-phat-trien-kien-tao-tuong-lai-dat-nuoc.html