Đi tìm câu hát mùa xuân
1. Ông Tư xem Phan là truyền nhân, tận tâm chỉ bảo từng giai điệu, cách nhả chữ, cách luyến láy. Đi đâu, gặp ai ông cũng tự hào khoe, 'đệ tử tôi đấy, nó là nhà báo nhưng biết ca bài chòi. Ca hay bá cháy, không trật nhịp nào. Tôi có người nối nghiệp rồi'. Nói xong, ông Tư cười mãn nguyện.

Minh họa: HOÀNG ĐẶNG
Làng biển cuối năm ấy. Trong một lần làm phóng sự cho số báo Tết, Phan và ông Tư tình cờ quen nhau. Đây phải chăng là sự hữu duyên như sắp đặt của định mệnh trong vô vàn cuộc gặp thoáng qua trên hành trình cuộc đời? Phan tự hỏi và băn khoăn đi tìm câu trả lời. Để rồi thầm nghĩ, người anh cần tìm đã xuất hiện.
Ông Tư đã ngoài bảy mươi nhưng trông còn khỏe. Ấn tượng đầu tiên của Phan về ông là chòm râu bạc trắng, dài ngang ngực và đôi mắt còn tinh anh dù gương mặt đã nhiều nếp nhăn. Lúc Phan bước vào quán nước, ông Tư đã nằm đong đưa ở chiếc võng một đầu mắc vào song cửa, đầu còn lại buộc vào chạc ba của cây bàng vuông, tán tỏa rộng trùm lên vùng cát nóng.
Phan lễ phép chào, ông Tư nhổm dậy, bắt tay thân thiện. Thế rồi, như thể người quen lâu ngày gặp lại, những câu chuyện giữa hai bác cháu cứ nổ ra rôm rả bên hiên quán trong buổi trưa đầy nắng và tràn ngập gió biển.
2. Nhà ông Tư nằm ở cuối làng, sát bên trảng cát trồng phi lao và đám phong ba mọc rài. Nhưng đến được nhà ông phải qua mấy hẻm sâu ngoằn ngoèo, một con đường trải bê tông cắt ngang, chạy dài xuống tới cảng cá. Ông Tư ở một mình trong căn nhà nhỏ, xây đã lâu. Vợ ông mất hơn mười năm. Con cái ông vào miền Nam lập nghiệp sau mấy lần thuyền bị bão đánh chìm.
Ngày xưa, ông Tư là một ngư dân thuộc dạng hiếm của cái làng biển này. Bao giờ cũng thế, trước ngày cho thuyền nhổ neo, rời bến, ông đều sắm lễ mang đến lăng ông Nam Hải khấn nguyện. Thuyền ông chưa bao giờ bị mất phương hướng khi lênh đênh trên đại dương rộng lớn, ngay cả lúc biển đầy dông sóng. Dân làng luôn tự hào về ông. Thuyền ông về bến, cá lúc nào cũng đầy khoang, trong khi nhiều thuyền khác phải neo dài ngày ở bến, ngư dân chán nản phải bỏ biển, tứ tán khắp nơi.
Hôm Phan ghé thăm, ông Tư đang ngồi vá lưới. Ông bảo rảnh tay giúp cho mấy người trong làng. Vừa thoăn thoắt từng mũi kim, ông vừa nhẩm lời những làn điệu bài chòi dân dã. Phan ngạc nhiên lắm, bởi lâu nay, ở quê anh, hình như bài chòi đã thất truyền, ít ai có hứng thú duy trì.
Ông Tư mê hát bài chòi và thích sáng tác những làn điệu mới cho các con bài trong bài chòi. Cứ mỗi chiều, ông thường đi dạo khắp làng. Đến đâu có đám đông ông đều sà vào, chuyện trò, uống trà và cất lên mấy câu hát. Những làn điệu gần gũi, dễ thuộc về nghề biển, về thời tiết, về tình cảm quê hương. Ông say sưa như thể rút ruột để ca. Cả làng, hầu như ai cũng từng được nghe ông hát, riết rồi thành quen, ông chết với cái tên mà người làng mặc định mỗi khi có ai đấy ở xa hỏi thăm về ông, kiểu ông Tư bài chòi hả, nhà ổng đi hướng này nè...
Ngồi nói chuyện với Phan, cảm thấy cậu nhà báo muốn tìm hiểu, học hỏi về bài chòi, ông Tư hồ hởi, say sưa như thể chưa bao giờ được nói. Ông bảo với Phan rằng hát bài chòi cũng có rất nhiều làn điệu và tiết tấu. Khi thì da diết, xúc động, lúc lại sôi động, giục giã... nhằm chuyển tải hết nội dung một câu chuyện trọn vẹn.
Ông Tư đã đưa Phan đi từ ngạc nhiên này đến bất ngờ khác bởi kiến thức sâu rộng của ông về bài chòi, về những thăng trầm của loại hình nghệ thuật này. Phan nhớ, ngày anh còn nhỏ, ông nội từng nói với anh về nguồn gốc bài chòi. Nhưng vốn vô tâm lại ham chơi nên những gì ông nội nói Phan nghe tai này lại lọt qua tai kia. Nghĩ lại anh cảm thấy có lỗi vô cùng.
- Con đang suy nghĩ gì phải không?
- Dạ, không ạ!
Phan ấp úng rồi ngước nhìn ông Tư. Thực ra anh đang chìm trong dòng ký ức về những năm tháng tuổi thơ theo ông nội đến đình làng nghe hô bài chòi. Bao giờ cũng thế, ông ngồi ở chòi Cái, làm anh hiệu để dẫn dắt cuộc chơi. Có lần Phan được ông cho lên ngồi cùng.
Phan nhớ ông nội từng đi khắp làng kêu gọi và tập trung các nghệ nhân trước đình để trao đổi kinh nghiệm về loại hình nghệ thuật diễn xướng mang tính ngẫu hứng có nguy cơ mai một này. Giọng ông đầy xúc động, mọi người lắng nghe như nuốt từng lời. Đến tận bây giờ, Phan vẫn chưa quên lời ông nội rằng hát bài chòi không khó, nhưng khó nhất là làm sao luyến láy để chạm đến trái tim người nghe... muốn vậy người hát phải thật sự đam mê.
Nhưng rồi, vì nỗi lo thường nhật, những khó khăn trong cuộc sống đã khiến các nghệ nhân xao lãng, những lần tụ họp để bổ túc kiến thức bài chòi thưa thớt, người đến dự rơi rớt dần. Rồi trong lễ rước ông Nam Hải trước khi tàu thuyền hạ thủy ra khơi đánh cá và trong những ngày đầu xuân, làn điệu bài chòi không còn được cất lên. Ông nội buồn đến phát bệnh.
3. Phan sinh ra trong gia đình có truyền thống nghệ thuật. Nghe kể lại, ông bà cố rồi đến ông bà nội đều là những nghệ nhân ca bài chòi, hát bả trạo nổi tiếng khắp vùng. Ông bà nội nên duyên cũng nhờ những lần sinh hoạt văn nghệ của làng, của xã.
Đến đời cha, các cô, các chú thì hình như không còn ai mặn mà, dù cô Ba, chú Sáu vẫn hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật nhưng chuyển sang ca kịch ở một đoàn ca múa nhạc của tỉnh. Còn cha thì nhất quyết không dính dáng đến đàn nhị, song loan, kèn bóp và trống chiến nữa. Một thời cha vào Nam kiếm sống bằng đủ nghề để nuôi Phan ăn học. Cũng vì chuyện cha “tuyệt giao” với bài chòi mà ông nội và cha bất đồng, phải mất mấy năm mới ngồi lại với nhau.
Phan ca nghe hay, là mọi người ở cơ quan bảo thế. Những lần hội diễn văn nghệ quần chúng, Phan đều tham gia. Anh rất thích hát những bài mang âm hưởng trữ tình, ngợi ca quê hương, đất nước.
Sau ngày ông nội mất, hình như cha dần thay đổi tính tình, lặng lẽ lục tìm những gì liên quan đến bài chòi có thể ông nội để lại đâu đó. Năm Phan vừa tốt nghiệp đại học, đang chờ kết quả dự tuyển ở tòa soạn báo, sau bữa cơm tối, cha gọi Phan ra bàn nước trước nhà nói chuyện:
- Cha thật sự có lỗi với ông nội... để đến khi mất, ông vẫn còn nhiều điều muốn nói.
Phan thấy cha xúc động, nhìn đứa con trai duy nhất như muốn gửi gắm điều gì. Phan hiểu ý cha nên anh đã tìm tòi và từng liên hệ với một nghệ nhân ngoài tỉnh giúp anh thực hiện tâm nguyện của ông nội. Nhưng rồi... Ở đời này luôn có những lần giá như, và những bước ngoặt khiến chúng ta vuột mất cơ hội.
Sau khi được biên chế chính thức ở tòa soạn, Phan lại đi học nâng cao nghiệp vụ. Rồi những chuyến đi thực tế, nhiều lần theo sát nhân vật để tìm hiểu nhằm có những bài viết, những thước phim chân thực, hấp dẫn đã ngốn hết thời gian của anh.
4. Gặp ông Tư là một cái duyên. Nghe ông bộc bạch nỗi lòng, Phan thầm nghĩ đây chính là người nặng lòng với tổ nghiệp, mong bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của quê hương. Người mà anh cần tìm để thực hiện tâm nguyện trước khi qua đời của ông nội. Anh xúc động cầm bàn tay rám nắng của ông Tư, nghẹn ngào:
- Con cảm ơn bác rất nhiều, vậy mà lâu nay con cứ tưởng không còn ai hát bài chòi nữa!
Ông Tư ngạc nhiên trước thái độ của cậu nhà báo mới quen biết. Lúc này, Phan vẫn chưa hết cơn xúc động:
- Bác dạy con hát bài chòi nhé!
Cặp mắt ông Tư sáng lên, lấp lánh:
- Được rồi, lâu nay bác cũng đi tìm người kế nghiệp. May mắn là bác đã gặp được con.
Phan thấy lòng mình lâng lâng cảm xúc. Trong căn nhà mái thấp lúc ban trưa, gió biển men theo từng con hẻm phả vào mát rượi. Trong khi Phan tò mò săm soi đọc tên từng “con bài” trên chiếc thẻ bài thì ông Tư cất giọng.
Giọng ông Tư mộc, hơi khàn nhưng cái chất nghệ vẫn đính lên ở cách luyến thanh, cách nhả chữ. Phan cảm giác nghệ nhân già này đang cố hết sức thả hồn mình vào đấy, nhằm diễn đạt hết ý đồ của lời hát. Một phong cảnh hiện lên. Này là dòng sông, kia là đỉnh núi, hai biểu tượng của niềm tự hào về quê hương. Rồi hình ảnh bờ ruộng lúa, con mương gợi thức về công việc đồng áng của thời xa xưa nay đã trở thành một phần văn hóa. Cứ thế, Phan đã bị giai điệu bài hát đưa đi, lần theo ký ức để tìm về cội nguồn, về những giá trị trong đời sống tinh thần tưởng chừng mai một.
5. Những ngày cận Tết. Tiết trời bắt đầu thay đổi, vạn vật sinh sôi, căng tràn sức sống. Dọc đường đến cơ quan, Phan thấy hai bên người ta đã chưng bán các loại hoa cảnh. Những khóm hoa đủ màu sắc khẽ khàng hé nụ trong nắng ấm. Anh bâng khuâng, đắm mình trong không khí đầy hương sắc ấy. Chợt nhớ ra mình còn có nhiệm vụ quan trọng là phải học thuộc, tập cho nhuyễn một trích đoạn bài chòi để công diễn dịp đầu năm mới.
“Gió xuân phảng phất nhành tre/ Mời bà con cô bác lắng nghe bài chòi...”. Phan vừa nhìn bầu trời mùa xuân điểm xuyết từng cánh én vừa nhẩm lại giai điệu bài hát. Bất chợt, anh mỉm cười khi nghĩ đến hình ảnh ông Tư, một nghệ nhân bài chòi ngồi ở vị trí trang trọng nhất, xem anh ca và gật gù khen ngợi.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/di-tim-cau-hat-mua-xuan-3318246.html











