Chính sách mở đường, địa phương hành động - Kỳ 3: Động lực từ khát vọng số hóa
Quyền đã được phân cấp, nhưng để thực thi hiệu quả, cần một 'cánh tay'- đó là công nghệ số. Và, câu chuyện Huế chọn 'số' từ công cụ quản lý đã trở thành bản sắc để bứt phá.

Sau Nghị quyết (NQ) số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (NQ 57) được ban hành và các đạo luật vừa được Quốc hội thông qua, đặc biệt là Luật Công nghiệp công nghệ số và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, cùng với cả nước, Huế bước vào giai đoạn mới: Biến tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành động lực tăng trưởng.

Tại nhiều diễn đàn, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không phải là lựa chọn tùy ý, mà là con đường tất yếu - “lối đi duy nhất” để đất nước vươn lên, nâng cao đời sống Nhân dân. Từ tầm nhìn ấy, Bộ Chính trị đã ban hành NQ 57, xác lập chuyển đổi số là một trong ba động lực đột phá cho phát triển nhanh và bền vững.
Trên nền định hướng đó, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, ngày 14/6/2025, Quốc hội thông qua Luật Công nghiệp công nghệ số, đạo luật định danh một ngành “công nghiệp lõi” mới của quốc gia. Hai dòng chảy chính sách: NQ 57 và Luật Công nghiệp công nghệ số gặp nhau như một sự hợp lưu, trao cơ hội chiến lược cho những đô thị có lợi thế tri thức và văn hóa như Huế.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) TP. Huế, nhấn mạnh: “Đây là đạo luật mà các địa phương như Huế trông đợi; tạo điều kiện pháp lý để huy động nguồn lực, phát triển một nền kinh tế sáng tạo.
Nếu Luật Công nghiệp công nghệ số là “đường băng” cho nền kinh tế số, thì Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo được Quốc hội thông qua ngày 27/6/2025 chính là “động cơ phản lực”. Lần đầu tiên, đổi mới sáng tạo được luật hóa như một cấu phần cốt lõi ngang hàng với khoa học và công nghệ; thiết lập cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu; trao quyền tự chủ mạnh mẽ cho các tổ chức khoa học - công nghệ; và cho phép thương mại hóa kết quả nghiên cứu với quyền lợi rõ ràng: Nhà khoa học được hưởng tối thiểu 30% thu nhập từ sản phẩm ứng dụng, đồng thời được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân từ khoản thu này.

Điểm đột phá của luật là đổi hướng tiếp cận: Lấy nhu cầu thị trường làm điểm xuất phát cho nghiên cứu - “nhu cầu dẫn dắt công nghệ” thay vì “công nghệ tìm thị trường” như trước. Trước khi các ĐBQH bấm nút thông qua, Bộ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng lý giải: “Nếu khoa học và công nghệ là nền tảng, thì đổi mới sáng tạo là động lực lan tỏa, có thể đóng góp tới 3/4 trong tổng mức đóng góp 4% của lĩnh vực này vào GDP”.
Cũng lần đầu tiên, cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng và hậu kiểm thay vì tiền kiểm được luật hóa, rút ngắn quy trình và giảm rào cản hành chính. DN, viện, trường được khuyến khích đầu tư mạo hiểm, phát triển công nghệ đột phá; Nhà nước cam kết xây dựng hạ tầng dữ liệu bền vững, thúc đẩy AI, dữ liệu lớn và các nền tảng số quốc gia.

Từ nhiều năm trước, Huế vốn quen với nhịp phát triển chậm rãi, lấy chiều sâu văn hóa và sự bền bỉ của cộng đồng làm điểm tựa. Nhưng từ năm 2021, thành phố đã đặt mình vào một lộ trình khác: Coi chuyển đổi số là “đột phá chiến lược”, và xác định Chương trình Chuyển đổi số giai đoạn 2021–2025, định hướng 2030, với tầm nhìn trên ba trụ cột: chính quyền số - kinh tế số - xã hội số.
Chỉ sau vài năm, những con số đã phản ánh sự chuyển động của Huế: 97% dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 4, kho dữ liệu dùng chung kết nối từ quản lý đô thị, y tế, du lịch đến giáo dục. Và “số” ở Huế từ trên các văn bản điện tử hay máy chủ, đã đi vào từng nhịp sống. Tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, hàng trăm hồ sơ di sản phi vật thể được số hóa, lưu giữ như những “bản sao bất tử” của ký ức. Tại các bệnh viện, bệnh án cũng từng bước được số hóa…

UVTV Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Huế Nguyễn Thanh Bình nói ngắn gọn: “Chúng tôi đặt người dân ở vị trí trung tâm của mọi giải pháp”. Với Huế, chính quyền số là hoàn thiện cơ chế và mở rộng dịch vụ công; kinh tế số là đem công nghệ vào sản xuất, tạo ra giá trị mới; xã hội số là phát triển đô thị thông minh, dịch vụ tiện ích, nâng cao năng lực số cho cộng đồng.
Nhưng con đường từ nghị quyết đến đời sống chưa bao giờ bằng phẳng. Hiện nay, kinh tế số chỉ chiếm 12% GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn), cho thấy khoảng cách lớn so với mục tiêu 30% vào năm 2030. Nhân lực số cũng là bài toán khó. Đại học Huế mỗi năm đào tạo khoảng 700 - 900 sinh viên các ngành công nghệ số, kỹ thuật dữ liệu, tự động hóa, một con số quá ít so với nhu cầu, và chỉ khoảng 40% trong số đó ở lại làm việc tại địa phương.
Về tiến trình thực hiện NQ 57, Đại học Huế đặt ra những mục tiêu cụ thể: Nâng cấp các phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc gia; tập trung nghiên cứu các đề tài có khả năng ứng dụng và thương mại hóa cao – ít nhất 65% đưa vào thực tiễn, 25% thương mại hóa; thành lập “Đội sinh viên tình nguyện số” để phổ biến kỹ năng số, hướng dẫn người dân sử dụng Hue-S và dịch vụ công trực tuyến; phối hợp DN tiếp nhận và ứng dụng kết quả nghiên cứu; thúc đẩy mạnh mẽ liên kết viện - trường - DN.

Ông Cung Trọng Cường, Viện trưởng Nghiên cứu và phát triển TP. Huế ví Luật Công nghiệp công nghệ số mới thông qua như một “cú hích” để các đề tài nghiên cứu không còn nằm yên trong ngăn kéo.
“Huế đã nhập cuộc. Nhưng để cuộc chơi “số” này đi xa, không chỉ cần hạ tầng và chính sách, mà còn cần những con người dám nghĩ, dám thử, và dám chịu trách nhiệm cho những ý tưởng chưa từng có tiền lệ”, ông Cường nói.
Ông Nguyễn Xuân Sơn, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Huế cho rằng: Việc Quốc hội thông qua Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã “mở một hành lang pháp lý mới, tháo gỡ những điểm nghẽn lâu nay trong phát triển khoa học - công nghệ”.

Sau hơn 5 năm triển khai, dịch vụ đô thị thông minh của Huế đã có khoảng 1,3 triệu người đăng ký, trong đó gần 900.000 cư dân, gần như toàn bộ người trưởng thành của thành phố đang sử dụng. Người Huế ở hơn 20 quốc gia cũng tham gia kết nối. Giáo dục là một trong những lĩnh vực đi đầu, khi 100% trường học, giáo viên, phụ huynh, học sinh đều gắn kết qua nền tảng này.
Hiện, Huế có 302 cán bộ nghiên cứu khoa học, vượt chỉ tiêu NQ 57; tỷ lệ nhân lực khoa học - công nghệ trên 1 vạn dân cũng vượt yêu cầu. Thành phố sở hữu 28 tổ chức khoa học - công nghệ (công lập, ngoài công lập và trực thuộc các cơ quan Trung ương) đang đóng vai trò “lò luyện” nhân lực chất lượng cao.
“Cùng với những con số”, ông Sơn nói: “Thành phố cần một hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo thật sự kết nối, không rời rạc. Khi doanh nghiệp khởi nghiệp, DN số và DN công nghệ cùng được hỗ trợ theo một cơ chế điều phối thống nhất, đó sẽ là động lực kinh tế mới cho Huế”.

Estonia - một quốc gia chỉ 1,3 triệu dân đã vận dung nền tảng số giúp giảm chi phí vận hành. Hàn Quốc tận dụng dữ liệu lớn và AI để phát triển công nghiệp bán dẫn, biến Samsung và SK Hynix thành những “gã khổng lồ” toàn cầu. Singapore chọn hướng tiếp cận “Chính phủ như một nền tảng” (Government as a Platform), tạo hạ tầng số mở cho DN sáng tạo dịch vụ. Những mô hình này cho thấy: Khi thể chế, công nghệ và nhân lực được kết nối chặt chẽ, chuyển đổi số không chỉ tạo ra hiệu quả quản trị, mà còn trở thành động lực tăng trưởng bền vững.
Ở phần lớn các địa phương, chuyển đổi số đồng nghĩa với việc số hóa các quy trình. Ở Huế, câu chuyện được tính xa hơn. Thành phố không muốn chỉ “chuyển” sang số, mà còn muốn “sống” bằng số và chọn một hướng đi táo bạo: Bán dẫn.

Phó Trưởng đoàn ĐBQH TP. Huế Nguyễn Thị Sửu kỳ vọng: “Huế hoàn toàn có thể là hình mẫu thể chế đô thị kiểu mẫu. Thành phố có thể tiên phong thí điểm lập pháp địa phương, quản trị số cấp đô thị, xây dựng cơ chế ngân sách gắn với phát triển văn hóa – một tài sản đặc biệt mà ít nơi có được. Thành công sẽ mở ra cơ hội nhân rộng sang các đô thị đặc thù khác”.
Ngày 23/4/2025, Kế hoạch 180/KH-UBND được UBND thành phố ban hành, đặt mục tiêu biến Huế thành trung tâm nghiên cứu, đào tạo, thiết kế và sản xuất chip, vi mạch bán dẫn của miền Trung, hình thành hệ sinh thái tự chủ, gắn kết chặt chẽ với các trường đại học và cao đẳng. Với một thành phố vốn được biết đến bởi di sản và học thuật, việc nhắm đến một ngành công nghiệp mũi nhọn như bán dẫn không đơn thuần chỉ là tham vọng kinh tế, mà còn là lời khẳng định: Huế sẵn sàng bước vào cuộc đua công nghệ toàn cầu bằng chính lợi thế của mình.

Lợi thế ấy đến từ ba “chân kiềng”. Về nhân lực: Khoa Kỹ thuật và Công nghệ của Đại học Huế đang đào tạo các ngành hiện đại như khoa học dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, kỹ thuật điện - điện tử… Các trường thành viên mỗi năm cung cấp hàng trăm kỹ sư công nghệ thông tin, cơ điện tử, điện - điện tử, tạo nền tảng nhân lực chất lượng cao cho chuyển đổi số và công nghiệp công nghệ cao.
Về nguyên liệu: Mỏ cát thạch anh tại Phong Điền có trữ lượng lớn, hàm lượng SiO₂ đạt trên 99%, Fe₂O₃ rất thấp, là nguồn nguyên liệu quan trọng cho nhiều ngành công nghiệp, trong đó có sản xuất kính, gốm và tiềm năng cho ngành bán dẫn.
Về hạ tầng: Huế hiện có Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô cùng nhiều khu, cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động và đang được mở rộng; hệ thống giao thông, điện, viễn thông tương đối đồng bộ; Cảng Hàng không Quốc tế Phú Bài và Cảng nước sâu Chân Mây - Lăng Cô tạo điều kiện thuận lợi cho xuất nhập khẩu, đặc biệt là thiết bị và sản phẩm công nghệ cao.

Dù vậy, bước khởi đầu chưa dễ dàng. Ngành bán dẫn tại Huế hiện mới dừng ở mức công nghiệp điện tử và cơ khí điện tử hỗ trợ, hàm lượng công nghệ lõi còn thấp. Để “đổi cấp”, thành phố xác định phải đồng thời đầu tư phòng thí nghiệm vi mạch - bán dẫn tại Đại học Huế, thu hút doanh nghiệp thiết kế fabless, MEMS, IoT, xây dựng vườn ươm doanh nghiệp bán dẫn, và ban hành cơ chế ưu đãi đủ sức cạnh tranh.
Ông Trần Văn Mỹ, Chủ tịch Hiệp hội DN TP. Huế cho rằng: “Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư gay gắt, Huế với bản sắc riêng có thể tạo lợi thế nếu xây dựng được môi trường thể chế đáng tin cậy. Chính quyền cần dẫn dắt bằng hạ tầng công nghệ hiện đại, kết nối mạng lưới liên kết ngành từ địa phương ra khu vực và quốc tế”.
Ở góc độ khác, NQ 57 đặt yêu cầu: Đột phá thể chế, biến thể chế thành lợi thế cạnh tranh. Tinh thần đó đã được Huế cụ thể hóa bằng việc thành lập Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát động phong trào “Bình dân học vụ số” để phổ cập kỹ năng số tới cộng đồng, và yêu cầu 100% xã, phường thành lập tổ công nghệ số cộng đồng.

Giám đốc Sở Khoa học & Công nghệ Nguyễn Xuân Sơn cho biết, Huế hiện nằm trong top 5 cả nước về chỉ số chuyển đổi số, dẫn đầu về triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp trên nền tảng số.
Theo ông Sơn, đây là thời điểm “chín muồi” để Huế bứt phá, hình thành khu công nghệ cao và khu công nghệ thông tin tập trung, thu hút DN lớn trong và ngoài nước, tạo bước đột phá phát triển.
Khi dòng chảy cải cách thể chế gặp khát vọng số hóa, khi niềm tin thể chế song hành cùng sức mạnh văn hóa, Huế sẽ định vị mình như một trung tâm kiểu mẫu: Nơi truyền thống và hiện đại giao thoa, nơi chính quyền gần dân và DN, và nơi di sản trở thành bệ phóng cho sáng tạo. Đó là hành trình để Huế bước ra bản đồ đô thị Việt Nam với một vị thế mới - đô thị di sản kiểu mẫu của thời đại số.
