Chín mươi ba mùa xuân và một 'trái tim xanh'
Chín mươi ba mùa xuân đi qua, nhà thơ Trần Cầu vẫn giữ cho mình một 'trái tim xanh' - xanh của niềm tin, của tình yêu và của những vần thơ da diết. 66 năm tuổi Đảng, gần bảy thập niên gắn bó với Thái Nguyên, thơ ông không chỉ là cuộc dạo chơi của tuổi già, mà là nhịp đập bền bỉ của một tâm hồn suốt đời yêu Đảng, yêu xứ chè, đất thép...

Nhà thơ Trần Cầu (người thứ 3 từ phải sang) và các bạn thơ trong cuộc tọa đàm về thơ của ông mới được tổ chức gần đây.
Nhà thơ Trần Cầu sinh năm 1934, quê ở thôn Giang, xã Nhân La, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên (cũ). Ông đến với thơ khá muộn. Bài thơ đầu tiên viết năm 2001, đăng trên tập san “Vì trẻ thơ” của Ủy ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Trước đó, ông là kỹ sư luyện kim, gắn bó với Công ty Gang Thép Thái Nguyên từ năm 1959.
Gần 70 năm sống và làm việc tại Thái Nguyên, từng tế bào trong ông đã hòa quyện với xứ chè, đất thép. Ông viết về lò cao, về những đêm công trường, về dòng gang cuộn chảy, về ánh lửa hàn lóe sáng hơn sao… Thơ ông lấp lánh “miền lửa riêng”, vừa là lửa thép, cũng là lửa lòng. “Chiều về nghiêng bóng lò cao/ Dòng gang cuộn chảy xôn xao sắc hồng…”. Những câu thơ ấy chân thật, mộc mạc, như chính con người ông.
Tiến sĩ văn học, nhà thơ Nguyễn Kiến Thọ từng nhận xét: Thơ Trần Cầu lành hiền như con người ông. Điểm mạnh là thi tứ - những quan sát chắt lọc từ sự nghiền ngẫm về tình đời, sự đời. Thơ ông kể chuyện đời thường, không ồn ào thời sự, nhưng chưa bao giờ cũ.
Điều làm người đọc bất ngờ là ở tuổi ngoài chín mươi, ông vẫn viết thơ tình. Đầu xuân đi hội trà Tân Cương, nhìn nương chè nảy búp, ông viết: “Em có yêu thì cùng anh sánh bước/ Nắng Tân Cương nảy búp tay người/ Ta ngọt trong hơi thở của trà/ Gió hồi tình ướp thơm ý nghĩ…”. Câu thơ như của chàng trai mười bảy tuổi. Và ông bảo, tình yêu không chỉ là tình yêu giới tính. Nó là “chất nhựa sống của tâm hồn”, để ông nhìn đời bằng “cặp mắt xanh non”.
Song, nếu chỉ có thơ tình, Trần Cầu chưa phải là Trần Cầu trọn vẹn. Trong hơn 200 bài thơ, có gần 20 bài thơ viết về Đảng, Bác Hồ, đó là những bài thơ chan chứa niềm yêu kính. “Đảng chỉ đường ta tự giải phóng cho ta/ Đường cách mạng dâng sóng trào bão dậy…”. Hình ảnh Đảng trong thơ ông gần gũi như người mẹ hiền: “Có ai đó, mềm lòng vấp ngã/ Đảng hiền từ nhắc nhở bao dung…”.
Ở nơi Bác Hồ và Trung ương Đảng từng sống và làm việc trong kháng chiến, ông viết về Bác với tình cảm gần gũi: “Giữa rừng Định Hóa - Thái Nguyên/ Bác Hồ dạo Thái Cực quyền hôm mai…”. Hình ảnh Bác Hồ hiện lên giản dị, ung dung giữa núi rừng Việt Bắc. Không cao xa, mà rất đỗi đời thường. Tình yêu quê hương của ông cũng mang hai miền: 17 bài thơ viết về nơi “cắt rốn chôn rau” ở Hưng Yên; gần 56 bài viết về Thái Nguyên, quê hương thứ hai của ông.
Ở tuổi 93, ông vẫn viết, vẫn đi hội lồng tồng, vẫn dạo bước bên hồ, vẫn nâng chén trà xuân và thả hồn theo nắng mùa thu vàng mật. Thơ ông không ồn ào cách tân, không tìm kiếm những cấu trúc phá vỡ, nhưng trong sự chân mộc ấy là một tấm lòng son sắt, một nhân cách sống cao đẹp.
Nhìn ông, người ta thấy một điều giản dị: sống có lý tưởng thì tuổi tác chỉ là con số. Và tôi tin, trong căn nhà nhỏ ông đang sống ở phường Gia Sàng vẫn còn những câu thơ đang ấp ủ. Như những búp trà đầu xuân, như những mạch gang hồng trong lò cao chưa nguội...












