'Chia lửa' áp lực vốn với ngành Ngân hàng

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn. Trong bối cảnh đó, Trung tâm tài chính quốc tế được kỳ vọng sẽ mở thêm kênh huy động vốn, thu hút dòng vốn quốc tế và góp phần chia sẻ áp lực cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng trong nước.

Nhu cầu vốn cho tăng trưởng hai con số

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030, bài toán huy động nguồn lực đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tại một hội thảo liên quan đến kiến tạo thể chế, định hình dòng vốn thế hệ mới, TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) cho rằng, mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên thể hiện quyết tâm rất lớn của chúng ta. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần có những đột phá cả về thể chế lẫn huy động nguồn lực.

Đồng quan điểm, ông Kevin Bruce Iwanaga, Trưởng ban Chiến lược và Tổng hợp - Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng (VIFC-DN) nhận định, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mang tính bản lề. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, nền kinh tế cần tiếp tục mở rộng cộng đồng doanh nghiệp, gia tăng đầu tư hạ tầng và thu hút mạnh mẽ dòng vốn từ các nhà đầu tư toàn cầu.

Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, tổng nhu cầu vốn của nền kinh tế giai đoạn 2026-2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, phần lớn huy động từ khu vực tư nhân, doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các quỹ đầu tư quốc tế và thị trường vốn… Điều này, đặt ra áp lực rất lớn đối với công tác huy động vốn của nền kinh tế, trong đó hệ thống ngân hàng vẫn tiếp tục giữ vai trò là kênh cung ứng vốn chủ lực.

Với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, bài toán huy động nguồn lực, trong đó có nguồn vốn đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, bài toán huy động nguồn lực, trong đó có nguồn vốn đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Thực tế, hiện hệ thống ngân hàng trong nước đang đứng trước bài toán không dễ khi vừa phải đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng để hỗ trợ phát triển kinh tế, vừa bảo đảm an toàn hệ thống, ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Trong khi, các kênh huy động vốn trung và dài hạn như thị trường trái phiếu doanh nghiệp hay các quỹ đầu tư vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò của mình sau những biến động của thị trường những năm gần đây.

Theo TS Bùi Văn Huy, Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT, bài toán vốn sẽ là thách thức lớn nhất của nền kinh tế trong 5 năm tới. Với nhu cầu lên tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi, khả năng cung ứng của tín dụng ngân hàng có giới hạn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn đang trong quá trình phục hồi, việc mở rộng các kênh huy động vốn trở thành yêu cầu tất yếu.

Trong bối cảnh đó, cùng với việc phát huy các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư công, tiêu dùng, xuất khẩu và đầu tư tư nhân…, Việt Nam cần nhanh chóng hình thành những động lực tăng trưởng mới dựa trên đổi mới sáng tạo, kinh tế số, tài sản số và một thị trường vốn hiện đại hơn. Đây cũng là tiền đề quan trọng để định vị vai trò của Trung tâm Tài chính quốc tế trong chiến lược phát triển của nền kinh tế giai đoạn mới.

Nhu cầu vốn rất lớn, tạo áp lực lên hệ thống ngân hàng trong nước.

Nhu cầu vốn rất lớn, tạo áp lực lên hệ thống ngân hàng trong nước.

“Cầu nối” huy động vốn quốc tế

Trên thực tế, trong bối cảnh dư địa của các kênh huy động vốn truyền thống ngày càng thu hẹp, việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là hình thành thêm một thiết chế tài chính mới, mà còn hướng tới mục tiêu mở rộng các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế. Đây được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thu hút dòng vốn quốc tế, đa dạng hóa nguồn lực phát triển và từng bước giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Việc Quốc hội ban hành các nghị quyết về xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế cùng các cơ chế đặc thù dành cho TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho quá trình triển khai. Tuy nhiên, từ chủ trương đến thực tiễn vẫn còn nhiều việc phải làm, từ hoàn thiện thể chế, xây dựng hạ tầng đến phát triển nguồn nhân lực và hệ sinh thái tài chính…

Trung tâm tài chính quốc tế góp phần chia sẻ áp lực cung ứng vốn với ngành Ngân hàng.

Trung tâm tài chính quốc tế góp phần chia sẻ áp lực cung ứng vốn với ngành Ngân hàng.

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, đô thị, năng lượng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo… ngày càng lớn, việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế đã trở thành một nhiệm vụ mang tính chiến lược. Không chỉ góp phần thu hút các dòng vốn đầu tư quốc tế, mô hình này còn mở ra cơ hội hình thành những cơ chế huy động vốn mới, bổ sung cho hệ thống ngân hàng và thị trường vốn truyền thống, qua đó tạo thêm dư địa tài chính phục vụ tăng trưởng.

Đối với Đà Nẵng, Trung tâm tài chính quốc tế được xác định là một trong những động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và những năm tiếp theo. Cùng với Khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế được kỳ vọng sẽ đóng vai trò thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, quỹ đầu tư quốc tế, đồng thời thúc đẩy phát triển thị trường tín chỉ carbon và các sản phẩm tài chính hiện đại…

Đà Nẵng cũng đã định hướng phát triển theo mô hình trung tâm tài chính hiện đại, chủ động đón đầu các phân khúc tài chính mới. Mục tiêu là thu hút các dòng vốn đầu tư quốc tế, phát triển đa dạng các nhà đầu tư tổ chức và thúc đẩy các lĩnh vực như giao dịch tín chỉ carbon, mã hóa tài sản thực cùng nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính theo thông lệ quốc tế. Qua đó, tạo thêm các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế và nâng cao khả năng kết nối với thị trường tài chính toàn cầu.

Mở thêm kênh dẫn vốn quốc tế, góp phần đa dạng hóa nguồn lực cho nền kinh tế.

Mở thêm kênh dẫn vốn quốc tế, góp phần đa dạng hóa nguồn lực cho nền kinh tế.

Theo ông Kevin Bruce Iwanaga, VIFC-DN không đơn thuần là việc hình thành thêm một trung tâm tài chính hay một cơ quan quản lý mới, mà hướng tới xây dựng một cửa ngõ tài chính hiện đại, kết nối dòng vốn toàn cầu với nền kinh tế thực của Việt Nam. Thông qua đó, nguồn vốn sẽ được định hướng vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng như hạ tầng, doanh nghiệp, thương mại, phát triển xanh, công nghệ, nông nghiệp, logistics, năng lượng và tăng trưởng kinh tế vùng…

Mượn hình ảnh biểu tượng của thành phố bên sông Hàn, ông Kevin Bruce Iwanaga ví von: “Đà Nẵng vốn được biết đến là thành phố của những cây cầu. Cầu nối vốn VIFC-DN sẽ là cây cầu mới nhất và lớn nhất, đóng vai trò là cửa ngõ kết nối Đà Nẵng với nguồn vốn toàn cầu, sự đổi mới và tăng trưởng dài hạn”.

Nhìn rộng ra cả nước, Việt Nam là quốc gia đi sau trong quá trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế, nhưng cũng có lợi thế học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình thành công trên thế giới. Nếu tận dụng tốt cơ hội, đồng thời xây dựng được một môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có tính cạnh tranh, Trung tâm tài chính quốc tế sẽ trở thành “cầu nối” đưa dòng vốn toàn cầu vào nền kinh tế, góp phần bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng, đa dạng hóa các kênh dẫn vốn và từng bước sẻ chia áp lực cung ứng vốn với hệ thống Ngân hàng trong nước.

Nghi Lộc

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/chia-lua-ap-luc-von-voi-nganh-ngan-hang-185931.html