Chi phí leo thang, doanh nghiệp bước vào chu kỳ phòng thủ mới
Bước vào cuối 2025 và 2026, doanh nghiệp đang đối mặt nhiều sức ép khi chi phí tăng nhanh hơn doanh thu, lãi vay bật lên sau nhiều quí neo thấp; tiền lương và chi phí điện... nhiều khả năng tiếp tục leo thang, siết mạnh biên lợi nhuận.
Trong khi nhu cầu thị trường vẫn ì ạch, áp lực chi phí mới buộc doanh nghiệp phải tính lại bài toán đầu tư, vận hành và giữ bằng được sức cạnh tranh trong giai đoạn đầy rủi ro phía trước.

Chi phí tăng cao, doanh nghiệp lo biên lợi nhuận teo tóp. Ảnh minh họa: TL
Nỗi lo lợi nhuận teo tóp
Bức tranh doanh nghiệp đang hiện lên với một sắc thái chung: chi phí đồng loạt tăng, lãi suất đảo chiều đi lên, thị trường tiêu thụ thiếu chắc chắn, trong khi sức chống chịu đã suy yếu sau ba năm liên tiếp co cụm. Sự thận trọng vì thế trở thành "giá trị cốt lõi" mới trong hầu hết các quyết định đầu tư.
Trong ngành cơ khí, ông Nguyễn Ngô Long, Chủ tịch HĐQT Công ty Cơ khí Nhật Long, ví tình thế doanh nghiệp như "đi trên dây" khi ba nhóm chi phí chủ lực tăng. Lãi vay đã tăng lên, từ mức 7,6-8% trước đây lên gần 9% với khoản vay trung - dài hạn, còn vay ngắn hạn vượt 7%. Với những doanh nghiệp từng trải qua giai đoạn 2011-2013 khi lãi vay chạm 15-20%, nỗi lo mất khả năng chi trả giờ không còn mơ hồ.
Từ năm 2026, mức lương tối thiểu tăng 7,2% kéo theo hàng loạt khoản đóng - hưởng phải điều chỉnh. Ông Long cho biết thị trường lao động đang cạnh tranh gay gắt giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội, đẩy mặt bằng lương tăng khoảng 10% chỉ trong một năm; một số vị trí thậm chí tăng 50-60%.
Đầu năm tới, cách tính giá điện hai phần có thể khiến chi phí đội thêm khi doanh nghiệp phải trả thêm phần công suất đỉnh ngoài điện năng tiêu thụ. Trong cơ khí, điện là chi phí lớn và theo ông Long, tăng 7-8% mỗi năm; có thời điểm chi phí năng lượng còn cao hơn cả lãi gộp, khiến sản xuất gần như không còn dư địa.
Dù vậy, doanh nghiệp không thể tăng giá bán vì áp lực cạnh tranh; nhiều đơn hàng thậm chí phải giảm 15-20% để giữ khách. "Vòng xoáy này làm biên lợi nhuận ngày càng mỏng, buộc doanh nghiệp ưu tiên giảm nợ, củng cố thanh khoản thay vì đầu tư mở rộng. Năm 2026 tăng trưởng âm gần như chắc chắn. Lúc này, sống sót quan trọng hơn tăng trưởng", ông nói.
Ở ngành gỗ, các tín hiệu tương tự tiếp tục lộ rõ, cho thấy không chỉ một mà nhiều ngành công nghiệp đang bước vào trạng thái phòng thủ. Ông Nguyễn Liêm, Chủ tịch HĐQT Công ty Lâm Việt, Phó Chủ tịch VIFOREST, tính toán việc lãi suất, giá điện và lương tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào lên thêm khoảng 2% giá bán. Con số tưởng nhỏ nhưng với biên lợi nhuận chỉ 5-7%, mức tăng này đủ "ăn mòn" phần lãi còn lại.
Áp lực lớn hơn đến từ thuế đối ứng của Mỹ, khi doanh nghiệp Việt buộc phải "chia sẻ" một phần thuế để giữ quan hệ với nhà nhập khẩu. "Một số đơn hàng gần như không còn lợi nhuận", ông Liêm nói.
Trong bối cảnh thương chiến Mỹ-Trung, thuế quan và biến động chính sách thương mại ngày càng khó lường, giống nhiều doanh nghiệp gỗ khác, Lâm Việt không dám đặt mục tiêu tăng trưởng 2026. Doanh nghiệp giữ sản lượng ngang năm trước, siết chi phí, nâng năng suất và thận trọng với các khoản vay mới.
Không chỉ cơ khí hay gỗ, ngành nhựa, cao su cũng chịu sức ép tương tự. Ông Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Công ty Cao su Đức Minh, kiêm Chủ tịch Hội Cao su - Nhựa TPHCM, cho biết chi phí đầu vào tăng, lãi suất vay bắt đầu nhích lên. Doanh nghiệp "không thể không vay" để mua nguyên liệu duy trì sản xuất, nhưng lại "không dám vay" để mở rộng vì sức mua yếu.
Giá bán gần như không thể tăng, nhiều doanh nghiệp chấp nhận hòa vốn hoặc giảm lợi nhuận để giữ khách. Lợi nhuận bị bào mòn bởi chi phí lao động, năng lượng, tài chính, logistics… Bước sang 2026, theo ông Quốc Anh, hàng loạt biến số khiến doanh nghiệp khó dự báo. Nếu chi phí tiếp tục leo thang trong khi giá bán neo thấp, "lợi nhuận chắc chắn bị bào mòn mạnh".
Khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (HUBA) cũng cho thấy, hơn 30% số doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận do chi phí đầu vào tăng. Cộng đồng doanh nghiệp thành phố còn đối mặt thêm một đợt "sóng ngầm" khác là tỷ giá đô la Mỹ tăng từ 25.000 lên 26.500 đồng chỉ trong một năm (tính đến cuối tháng 9). Mức tăng 6% này khiến giá nhập khẩu nguyên liệu tăng tương ứng, tạo sức ép lớn lên các ngành nhập khẩu nhiều như chế biến thực phẩm, linh kiện, máy móc...
Chi phí cao khiến sản phẩm nội mất lợi thế cạnh tranh so với hàng ngoại vốn được hưởng ưu đãi thuế hoặc chuỗi cung ứng tối ưu hơn. Các rào cản kỹ thuật, từ tiêu chuẩn đến yêu cầu truy xuất nguồn gốc, cũng đẩy chi phí tuân thủ tăng cao...
Nỗ lực doanh nghiệp và chính sách hỗ trợ
Trong bối cảnh Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên cho năm 2026, sức ép đặt lên cả nền kinh tế: doanh nghiệp phải duy trì năng lực cạnh tranh, còn Nhà nước phải tạo ra không gian chính sách đủ mạnh để kích thích đầu tư và tiêu dùng.
Đối với doanh nghiệp, áp lực chi phí buộc họ phải thay đổi từ cấu trúc vận hành đến công nghệ. Nhiều ngành đã bước vào chu kỳ hoạch định mới: nâng năng suất, giảm lao động, tự động hóa từng công đoạn, tinh giản quy trình quản trị và số hóa toàn bộ hoạt động.
Trong ngành dệt may, mô hình robot, tự động hóa theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), không chỉ giảm chi phí nhân công mà còn tăng độ ổn định và chất lượng sản xuất, phù hợp các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng của các FTA thế hệ mới. Ông cho biết nhiều doanh nghiệp đã đưa robot và AI vào các khâu vận chuyển, cắt may, thiết kế...

Doanh nghiệp cần nỗ lực cắt giảm chi phí để cạnh tranh. Ảnh: LH
Trong ngành cơ khí, gỗ hay công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp đang chủ động dịch chuyển sang những phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn, giảm lệ thuộc vào những đơn hàng gia công thuần túy vốn dễ bị ép giá. Tuy nhiên, chuyển đổi đó đòi hỏi vốn và công nghệ, hai yếu tố mà doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận khi lãi suất tăng.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, theo các chuyên gia, ưu tiên số một là giảm chi phí vốn. Lãi suất tăng đang là nút thắt lớn, kéo chi phí tài chính lên, hạn chế đầu tư thiết bị và làm chậm phục hồi đơn hàng. Khi doanh nghiệp ngại vay mở rộng, tổng cung khó tăng. Giữ mặt bằng lãi suất ổn định, thông qua tái cấp vốn có mục tiêu hoặc gói tín dụng ưu tiên, là điều kiện để doanh nghiệp lấy lại niềm tin.
Tỷ giá biến động mạnh, tới 6% trong một năm, gây áp lực cho ngành nhập khẩu nguyên liệu. Chính sách bình ổn tỷ giá linh hoạt và công cụ bảo hiểm tỷ giá sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro.
Ở trụ cột năng lượng, cần minh bạch lộ trình giá điện, hỗ trợ tiết kiệm năng lượng và đẩy nhanh cơ chế mua điện tái tạo trực tiếp (DPPA) để giảm chi phí trung hạn.
Xuất khẩu đối mặt rào cản thương mại và tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe. Doanh nghiệp gỗ, dệt may, cao su buộc giảm giá hoặc chia sẻ chi phí với nhà nhập khẩu. Để duy trì tăng trưởng trên 10%, cần hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh, chuyển đổi số và mở rộng tín dụng xanh cho cả khối vừa và nhỏ.
Cải cách thủ tục hành chính sau sáp nhập đơn vị hành chính cũng phải được đẩy nhanh, tránh ách tắc trong cấp phép và sản xuất, nếu không muốn dòng vốn tư nhân chậm lại.
Về dài hạn, các khu công nghiệp chuyên ngành như đề xuất của HUBA sẽ giúp giảm 10-15% chi phí logistics và tăng năng suất nhờ chuỗi cung ứng khép kín.
Tại buổi "Cà phê Doanh nhân" mới đây, TS Cấn Văn Lực, Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, dự báo GDP năm tới có thể đạt 9-10%. Đối với lãi suất, ông Lực cho hay Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang có xu hướng cắt giảm lãi suất, dự kiến có thêm đợt cắt giảm lãi suất vào tháng 12, tạo lực đỡ cho doanh nghiệp Việt Nam khi giảm áp lực tỷ giá và chi phí vốn.
Trong nước, theo ông, lãi suất điều hành dự kiến duy trì thấp, dù lãi suất huy động có thể nhích lên, nhưng ngân hàng vẫn được yêu cầu không tăng lãi suất cho vay. Tỷ giá 2026 được dự báo "dễ thở" hơn khi vàng ổn định và Fed hạ lãi suất.
Mục tiêu tăng trưởng 10% không phải là bất khả thi, nhưng đòi hỏi sự phối hợp chính sách quyết liệt từ phía Nhà nước và nỗ lực thay đổi từ phía doanh nghiệp. Khi chi phí leo thang trở thành "chuẩn mới", một chiến lược tăng trưởng dựa trên giảm chi phí vốn, ổn định tỷ giá, hỗ trợ chuyển đổi xanh, số hóa và phát triển chuỗi cung ứng nội địa sẽ là điều kiện để doanh nghiệp bước ra khỏi chu kỳ phòng thủ và đóng góp trở lại cho tăng trưởng.











