Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ đi mở bến
Có những con người đã đi vào cõi vĩnh hằng nhưng công đức to lớn, thời gian không thể phủ mờ. Thời chú Sáu Dân (ông Võ Văn Kiệt) chủ trương biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, ông Dương Quang Đông còn sống. Tôi được gặp ông, nghe ông kể chuyện đi làm Cách mạng. Có quá nhiều điều khiến thế hệ chúng tôi kinh ngạc và nghiêng mình ngưỡng mộ trước một nhà Cách mạng sống ở tuổi 100.
Gian nan mở bến
Cuộc đời Dương Quang Đông được dệt nên bằng những trang sử đậm dấu ấn thời cuộc, quá đỗi hào hùng. Ông Năm Đông nhiều lần bị bắt bớ, tù đày nhưng vẫn kiên định con đường Cách mạng. Tháng 3/1941, ông cùng bảy người tù tổ chức vượt ngục Tà Lài trở về tiếp tục hoạt động Cách mạng. Tháng 10/1943, Hội nghị Xứ ủy bầu ông Năm Đông làm Bí thư; đến ngày 9/3/1945, ông chuyển giao chức vụ này cho Trần Văn Giàu.
Ông Năm Đông là nhân chứng, đồng thời là người góp phần viết nên lịch sử Nam Bộ kháng chiến. Trên cương vị Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa tỉnh, ông đóng góp quan trọng vào việc giành chính quyền trọn vẹn ở Trà Vinh. Khi trở lại Sài Gòn, ông được phân công chỉ huy chiến đấu bảo vệ trụ sở Ủy ban Nhân dân Nam Bộ tại dinh Đốc Lý. Trong thời khắc lịch sử, trước tương quan lực lượng quá chênh lệch, ông vẫn dũng cảm cầm cự, chứng kiến khí phách hiên ngang của người Sài Gòn và Nam Bộ. Khi phát lệnh toàn Nam Bộ kháng chiến, ông cùng lực lượng về miền Tây tiếp tục cuộc chiến đấu.

Nhà Cách mạng Dương Quang Đông trong một buổi họp biên soạn công trình Nam bộ kháng chiến năm 2002
Năm 1946, ông Năm Đông là một trong những đại biểu Quốc hội khóa I của tỉnh Trà Vinh. Với phẩm chất năng động, sáng tạo, liêm khiết, ông được Khu 9 giao nhiệm vụ mở đường Xuyên Tây (Nam Bộ – Thái Lan), cả đường bộ lẫn đường biển, mua vũ khí cho kháng chiến Nam Bộ. Nhận 25 kg vàng do Phan Trọng Tuệ và Phạm Văn Xô trao từ quỹ nhân dân quyên góp trong “Tuần lễ vàng”, lòng ông tràn ngập xúc động và trĩu nặng trách nhiệm.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông được Đảng chỉ đạo ở lại miền Nam hoạt động, đảm nhận những nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Trên cương vị Khu ủy viên Khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn, ông phụ trách binh vận, mở các tuyến giao liên đặc biệt, phục vụ lãnh đạo cấp cao của Trung ương Đảng và Xứ ủy khi chưa có đường 559.
Luôn đứng nơi đầu ngọn sóng, ông phụ trách đường dây A53 giao bưu ngoại tuyến, chuyển tiền từ Campuchia về Trung ương Cục để nuôi sống cuộc Cách mạng miền Nam. Một lần nữa, ông được Xứ ủy Trung ương Cục giao nhiệm vụ: mở đường biển đưa vũ khí vào Nam.
Vì sự tin tưởng đó, ông nhận nhiệm vụ, chọn một số chiến sĩ dũng cảm, tổ chức tuyến đường từ Mã Đà qua sông Đồng Nai, xuyên rừng với vài khẩu súng trong tay, không một xu dính túi, đào củ chụp và hái rau rừng ăn thay cơm. Hơn 20 ngày sau, về đến huyện Xuyên Mộc.
Hồ Tràm lúc đó có một xóm nhà chỉ khoảng 200 dân. Nhờ đồng bào và vợ chồng ông Mười Vinh tham mưu, chúng tôi biết tại Lộc An, xã Phước Hải, có sông Ray từ Campuchia chảy xuống, lòng sông rất sâu. Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình, tôi quyết định chọn nơi này làm bến tàu và xin tăng cường thêm lực lượng. Đồng thời, ông cử Ba Niệm chỉ huy giữ sông Ray, cho đào cửa vàm để bớt quanh co.
Ông trở về Trung ương Cục báo cáo. Các đồng chí băn khoăn vì địa điểm quá gần địch, yêu cầu tôi tìm nơi khác tốt hơn. Ông đi đi về về ba lần, vẫn không tìm được chỗ nào thuận lợi hơn. Cuối cùng, ông cương quyết: “Nếu ta không làm vì sợ gần địch thì sẽ không còn chỗ nào để mở bến. Hãy cho tôi làm thử. Nếu được thì tiếp tục, có trở ngại sẽ tìm cách khác.” Tìm được bến, có chủ trương làm thử, lại vấp phải cái khó khác.
Ông Dương Quang Đông chia sẻ: “Ngặt nỗi, tiền mua tàu cho chuyến đầu tiên Trung ương cũng không có. Khó khăn lắm mới xoay được 100.000 đồng. Tôi giao cho đồng chí Bửu Hoa mang tiền, không ngờ giữa đường căn cứ bị biệt kích Mỹ bắn chết, số tiền cũng mất trọn. Hai đồng chí bị thương nặng, riêng tôi chạy lạc trong rừng hai ngày. Ở nhà, vợ chồng đồng chí Mười Vinh tưởng tôi đã hy sinh nên cúng cơm cho tôi. Hai vợ chồng ông Mười Vinh họp bàn chuyện sắm tàu trong lúc không còn đồng nào trong tay. Cuối cùng, chị Mười Vinh lên tiếng: “Tôi còn vài trăm ngàn và mấy lượng vàng, xin cho Nhà nước mượn. Bây giờ xin các anh cho tôi được chui rào vào chi khu, tìm cách mua tàu!” Tôi thật bất ngờ và vô cùng xúc động trước đề nghị của chị Mười Vinh…”.

Đoàn Bà Rịa vượt biển ra Bắc. Từ trái sang, hàng đầu: Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn An Ninh, Trần Minh Hoàng. Hàng sau: Thôi Văn Nam, Lê Hà, Nguyễn Sơn
Bến Lộc An và những chuyến tàu Không số
Chuẩn bị cho một chuyến tàu ra Bắc không chỉ gặp khó khăn về tiền bạc mà còn là thử thách về tư tưởng, bản lĩnh của những người được giao nhiệm vụ. Ông Năm Đông chọn sáu người gồm: Chiến làm thuyền trưởng; Lê Hà – chính trị viên; cùng Hoàng, Dũng, Nam (tức Bảy) và Kiểm thực hiện chuyến vượt biển. Bà Mười Vinh hẹn người đem tàu ra tận Hồ Cốc. Ngày 17/2/1962, đoàn nhận tàu rời bến. “Số phận con tàu thật gian nan, vất vả”.
Đoàn Bà Rịa vượt biển ra Bắc. Có tài liệu ghi đoàn xuất phát từ Hồ Tràm ngày 27/2/1962; đến ngày 31/2/1962 thì bị địch bắt ở Cam Ranh. Một tháng sau, tàu được thả và tiếp tục hành trình nhưng bị lạc sang đảo Hải Nam (Trung Quốc), rồi được đưa về Hà Nội qua đường ngoại giao.
Ông Năm Đông nhớ lại: “Một chuyến tàu đưa vũ khí về Nam là một trận chiến. Có lúc thắng, có lúc thua đau đớn”. Khi nói về những con tàu không số, ông thường mang vẻ trầm buồn. “Chuyến kế tiếp do Lê Hà làm thuyền trưởng. Vì chuyến đầu bị lộ nên địch phục kích từ Malacca, đánh chìm tàu. Cả đoàn bị bắt. Sau này, Lê Hà được trao trả tại sân bay Thiện Ngôn. Sau nhiều chuyến đi, quân số hao hụt, người hy sinh, người bị bắt, nên đồng chí Mai Chí Thọ chuyển về cho tôi thêm ba đồng chí: Sáu Thịnh, Ba Đắc, Tư Phúc để lập ban, đổi phiên hiệu từ 555 thành 1500.
Sau đó, tôi nhận được điện từ ngoài Bắc báo tin tàu nhổ neo rời bến Hải Phòng ngày 23/9/1963 về bến Lộc An. Tôi mừng quá, bao ngày gian nan mở bến, nay được tin tàu về. Tôi cử Ngọc làm hoa tiêu đón tàu đưa vào sông Ray…”
Chuyến tàu chở 30 tấn súng đạn đầu tiên vào miền Đông
Sau những ngày kỳ công nghiên cứu, khảo sát, bến Lộc An đã sẵn sàng đón tàu. Địch không thể ngờ con rạch trên sông Ray, cách cửa biển Lộc An chỉ khoảng một cây số rưỡi về phía thượng nguồn, lại là nơi tàu không số đưa vũ khí vào bến. Trước khi vũ khí được chuyển về các chiến trường, phải có kho tiếp nhận. Địch cũng không thể ngờ giữa cánh rừng ven biển, kho vũ khí đã được Đoàn 1500 âm thầm xây dựng. Các chiến sĩ chặt cây làm sàn, lợp lá dừa, cỏ tranh… đồng thời đào hầm sâu trong lòng đất để cất giấu những mặt hàng đặc biệt. Địa bàn chủ yếu của bến đậu tàu và kho thuộc xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa. Đơn vị xác định yếu tố quyết định thành công của bến là tuyệt đối giữ bí mật và giữ vững lòng dân. Nhưng bến đã sẵn sàng mà tàu không về được thì mọi công sức đều vô nghĩa.
Con tàu không số vào bến Lộc An năm ấy phải đối mặt với những tình huống thắt tim. Ông Năm Đông kể: “Ba giờ sáng, con tàu ngoài khơi bị đèn pha từ Vũng Tàu quét tới, cách khoảng mười cây số. Gặp nước ròng, tàu mắc cạn. Anh em tuôn hết những thứ nặng, kể cả mấy chục thùng dầu, rồi lội xuống đẩy nhưng vẫn không nhúc nhích. Đoàn trên tàu phải giả dạng thường dân, kéo cờ chính quyền Việt Nam Cộng hòa để nghi binh.
Khoảng bảy giờ sáng, một chiếc ‘đầm già’ (máy bay L-19) từ Sài Gòn bay tới, quần ba vòng quanh tàu. Máy bay bay rất thấp, anh em nhìn thấy cả tên lính Mỹ mang kính đen ló đầu ra quan sát. Tất cả nằm sát xuống sàn tàu, chờ tai họa ập đến. Nhưng thật bất ngờ, chiếc máy bay vọt lên cao rồi mất dạng về hướng Bắc. Mọi người trên tàu đều thở phào nhẹ nhõm. Đến ba giờ chiều ngày 30/9/1963, nước lớn, tàu nổi lên, thuyền trưởng ra lệnh cho tàu chạy vào sông Ray an toàn. Con tàu đã mang được 30 tấn súng đạn đầu tiên vào miền Đông Nam Bộ. Thuyền trưởng là đồng chí Lê Văn Một, quốc tịch Pháp, người từng chở súng đạn từ Thái Lan về Khu 9 với tôi năm 1945 – nay gặp lại thật xúc động.
Tôi còn nhớ rõ máy trưởng con tàu là đồng chí Sao, chính ủy là đồng chí Thành, hai chiến sĩ đưa đường là Chiến và Bảy Nam. Chuyến tàu và bến hoàn toàn thắng lợi. Các tỉnh miền Đông đều đến nhận vũ khí, số còn lại phải đem giấu trong rừng. Trong chuyến này, tôi được Bác Tôn gửi tặng một cây súng Carbine Automatic. Khi về đến Trung ương Cục, đồng chí Phạm Hùng tặng tôi một chiếc đồng hồ Citizen…”.
Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/doi-song/nhip-song/bi-thu-xu-uy-nam-ky-di-mo-ben_189113.html













