Bệnh viêm màng não do não mô cầu

Viêm màng não do não mô cầu là bệnh lý nhiễm trùng nghiêm trọng, có nguy cơ để lại di chứng nếu không được chẩn đoán, điều trị sớm.

 Hình ảnh vi khuẩn não mô cầu. Ảnh: Sciencephotos.

Hình ảnh vi khuẩn não mô cầu. Ảnh: Sciencephotos.

Viêm màng não do não mô cầu là bệnh lý nhiễm trùng nghiêm trọng, có nguy cơ để lại di chứng hoặc gây nguy hiểm tính mạng cho người bệnh nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

 Hội nghị trực tuyến công tác Phòng chống dịch bệnh viêm màng não do não mô cầu tới tất cả địa phương do ngành y tế Bắc Kạn tổ chức chiều 12/6, ngay sau khi có kết quả xét nghiệm từ Bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Hội nghị trực tuyến công tác Phòng chống dịch bệnh viêm màng não do não mô cầu tới tất cả địa phương do ngành y tế Bắc Kạn tổ chức chiều 12/6, ngay sau khi có kết quả xét nghiệm từ Bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Não mô cầu là một bệnh truyền nhiễm gây dịch, do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra. Biểu hiện của bệnh thường gặp là viêm màng não mủ và/hoặc nhiễm khuẩn huyết, có thể gây sốc dẫn đến nguy hiểm tính mạng, nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do hít phải các giọt nhỏ dịch tiết mũi họng bị nhiễm Neisseria meningitidis, khả năng lây truyền sẽ tăng nếu có đồng nhiễm cùng các virus đường hô hấp.

Bệnh xảy ra rải rác hoặc thành dịch ở nhiều nơi trên thế giới, chủ yếu vào mùa đông xuân. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, thường gặp nhất là trẻ dưới 5 tuổi, thanh thiếu niên từ 14 đến 20 tuổi, những người sống trong khu vực tập thể đông người (nhà trẻ, trường học, chung cư...) và các cơ địa suy giảm miễn dịch.

Chẩn đoán ca bệnh dựa vào:

(1) Yếu tố dịch tễ: Có tiếp xúc với bệnh nhân hoặc sống trong tập thể (nhà trẻ, trường học, ký túc xá, doanh trại...) có người đã được xác định bị mắc bệnh do não mô cầu.

(2) Dựa vào lâm sàng: Thời kỳ ủ bệnh trung bình là 4 ngày (2-10 ngày);

Biểu hiện nhiễm trùng rõ: Sốt cao đột ngột, có thể có rét run, ho, đau họng, mệt mỏi, nhức đầu
Dấu hiệu màng não - não
Đau đầu dữ dội, buồn nôn, nôn, táo bón, gáy cứng, (trẻ nhỏ có thể có tiêu chảy, thóp phồng và gáy mềm)
Rối loạn ý thức, li bì, kích thích vật vã, có thể có co giật, hôn mê
Ban xuất huyết hoại tử hình sao, xuất hiện sớm và lan nhanh, thường gặp ở hai chi dưới
Tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc nặng, nhanh chóng vào tình trạng sốc: Mạch nhanh, Huyết áp hạ hoặc huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tâm thu - tâm trường < 20 mmHg), thiểu niệu, vô niệu, đông máu nội mạch rải rác, suy thượng thận, suy đa tạng và có thể nguy hiểm tính mạng trong vòng 24h.

Chẩn đoán xác định ca bệnh:

Là ca bệnh lâm sàng, có kèm theo xác định được vi khuẩn gây bệnh bằng một trong các xét nghiệm sau: Soi thấy song cầu gram (-), cấy phân lập được N.meningitidis trong dịch não tủy. Cấy máu phân lập được N.meningitidis. Soi và cấy phân lập được N.meningitidis trong tử ban. PCR (+) với N.meningitidis trong dịch não tủy, máu, tử ban (nếu có điều kiện làm xét nghiệm)

Nguyên tắc điều trị:

Chẩn đoán sớm ca bệnh
Sử dụng kháng sinh sớm
Hồi sức tích cực
Cách ly bệnh nhân.

Điều trị cụ thể: Kháng sinh. Thời gian điều trị kháng sinh tối thiểu 7-14 ngày hoặc 4-5 ngày sau khi bệnh nhân hết sốt, tình trạng huyết động ổn định, xét nghiệm dịch não tủy bình thường (đối với viêm màng não mủ do não mô cầu).

Điều trị hỗ trợ và triệu chứng:

Hạ sốt, an thần, chống phù não, điều trị suy tuần hoàn, sốc: bù dịch, thuốc vận mạch, hỗ trợ hô hấp, lọc máu liên tục, điều chỉnh nước, điện giải và thăng bằng kiềm toan, vệ sinh thân thể và dinh dưỡng đầy đủ.

Phòng bệnh tại cộng đồng:

Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân: Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, súc miệng họng bằng các dung dịch sát khuẩn mũi họng thông thường
Thực hiện tốt vệ sinh nơi ở, thông thoáng nơi ở, nơi làm việc
Có thể tiêm vaccine phòng bệnh
Khi phát hiện có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh cần đi khám tại các cơ sở khám chữa bệnh càng sớm càng tốt

Phòng bệnh trong bệnh viện:

Cách ly bệnh nhân
Đeo khẩu trang khi tiếp xúc hoặc chăm sóc người bệnh
Quản lý và khử khuẩn đồ dùng và chất thải của bệnh nhân, dịch tiết mũi họng của bệnh nhân
Có thể sử dụng thuốc dự phòng cho nhân viên y tế và người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân;

Phòng bệnh đặc hiệu:

Tiêm phòng vaccine: Hiện nay đã có vaccine phòng bệnh não mô cầu nhóm A, B và C; Có thể tiêm cho trẻ từ 2 tuổi trở lên, tiêm liều duy nhất, nhắc lại mỗi 3 năm/lần và dự phòng bằng thuốc.

BSCKII Tạc Văn Nam

Giám đốc Sở Y tế Bắc Kạn

Nguồn Znews: https://lifestyle.znews.vn/benh-viem-mang-nao-do-nao-mo-cau-post1481394.html