Bảo vệ người bị bạo lực gia đình: Từ hoàn thiện pháp luật đến hành động thực tiễn
Bạo lực gia đình là một trong những vấn đề xã hội nhức nhối, tồn tại dai dẳng ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Không chỉ gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền con người của nạn nhân, bạo lực gia đình còn làm suy giảm chất lượng hôn nhân, phá vỡ cấu trúc gia đình, để lại hệ lụy lâu dài cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Nhận thức rõ tính chất nghiêm trọng của vấn đề này, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phòng ngừa, ngăn chặn bạo lực gia đình, đồng thời bảo vệ, hỗ trợ kịp thời người bị bạo lực gia đình, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi.
Nhiều mô hình, điểm sáng

Các đơn vị cùng cam kết tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức về bình đẳng giới. Ảnh: Phạm Linh
Một trong những kết quả nổi bật là hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ và tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Từ những quy định rải rác trong Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 - đạo luật chuyên ngành đầu tiên điều chỉnh toàn diện lĩnh vực này. Sau hơn 10 năm triển khai, Luật đã góp phần nâng cao nhận thức xã hội, tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng ngừa, can thiệp và xử lý hành vi bạo lực.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, có hiệu lực từ ngày 1-7-2023, với nhiều điểm đổi mới quan trọng. Luật thể hiện rõ tư duy tiếp cận hiện đại, lấy người bị bạo lực gia đình làm trung tâm, mở rộng phạm vi điều chỉnh, bổ sung các hành vi bạo lực tinh thần, kinh tế, tình dục; quy định cụ thể về tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác; tăng cường các biện pháp bảo vệ khẩn cấp như cấm tiếp xúc, hỗ trợ nơi tạm lánh; đồng thời chú trọng giáo dục, chuyển đổi hành vi của người có hành vi bạo lực.
Để triển khai thi hành Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2023/NĐ-CP và Nghị định số 110/2025/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu phòng, chống bạo lực gia đình, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý thống nhất, liên thông và nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành.
Song song với hoàn thiện pháp luật, công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục phòng, chống bạo lực gia đình được xác định là nhiệm vụ trọng tâm và được triển khai rộng khắp với nhiều hình thức phong phú. Các chương trình phát thanh, truyền hình, chuyên trang, chuyên mục báo chí, hoạt động truyền thông cộng đồng, sân khấu hóa, sinh hoạt chuyên đề… đã góp phần từng bước thay đổi nhận thức xã hội, khẳng định bạo lực gia đình không còn là “chuyện riêng”, mà là hành vi vi phạm pháp luật cần được lên án và xử lý nghiêm.
Một điểm sáng khác là việc duy trì và nhân rộng các mô hình phòng, chống bạo lực gia đình tại cộng đồng. Từ mô hình thí điểm năm 2008, đến nay cả nước đã có trên 12.000 mô hình phòng, chống bạo lực gia đình; gần 30.000 câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững; hàng chục nghìn địa chỉ tin cậy và đường dây nóng hoạt động tại cơ sở. Các mô hình này đã trở thành “điểm tựa” quan trọng, giúp phát hiện sớm, can thiệp kịp thời và hỗ trợ hiệu quả người bị bạo lực gia đình.
Nhiều bộ, ngành, địa phương cũng chủ động xây dựng các mô hình đặc thù, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam duy trì các “Ngôi nhà Bình yên”, câu lạc bộ “Gia đình hạnh phúc”, “5 không, 3 sạch”; Hội Nông dân triển khai mô hình “Người cha trách nhiệm”; một số địa phương phát triển mô hình “một cửa” hỗ trợ nạn nhân tại bệnh viện. Công tác giáo dục tiền hôn nhân cũng được quan tâm, góp phần trang bị kiến thức, kỹ năng phòng ngừa bạo lực ngay từ đầu.
Trong xử lý vi phạm, công tác tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác hành vi bạo lực gia đình đã có chuyển biến rõ rệt. Các đường dây nóng, tổng đài quốc gia, số điện thoại của UBND cấp xã được công khai, tạo điều kiện để người dân phản ánh vụ việc. Giai đoạn 2023–2024, hàng nghìn trường hợp đã được xử lý bằng các biện pháp góp ý, phê bình, giáo dục tại cộng đồng, xử phạt hành chính và xử lý hình sự, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Đặc biệt, công tác bảo vệ và hỗ trợ người bị bạo lực gia đình ngày càng được chú trọng theo hướng toàn diện, từ y tế, tâm lý, pháp lý đến hỗ trợ sinh kế. Tỷ lệ người bị bạo lực gia đình được tiếp cận trợ giúp pháp lý, chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng, phản ánh hiệu quả bước đầu của việc triển khai Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.

Mô hình "một cửa" cung cấp dịch vụ công tác xã hội từ nguồn ngân sách thành phố Hồ Chí Minh cho phụ nữ, trẻ em và người bị bạo lực, xâm hại có sự tham gia hỗ trợ từ Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ tại Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Nguyên Anh.
Tiếp tục hoàn thiện chính sách
Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác phòng, chống bạo lực gia đình vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Tác động kéo dài của đại dịch Covid-19, áp lực kinh tế, di cư lao động, biến đổi xã hội và sự mai một các giá trị truyền thống đã làm gia tăng mâu thuẫn trong gia đình, tiềm ẩn nguy cơ bạo lực.
Quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính khiến đội ngũ cán bộ làm công tác gia đình ở cơ sở thiếu ổn định, phần lớn kiêm nhiệm, hạn chế về chuyên môn và kỹ năng can thiệp. Kinh phí dành cho phòng, chống bạo lực gia đình còn hạn chế, chủ yếu lồng ghép trong các chương trình khác, chưa có nguồn lực tương xứng để duy trì lâu dài các mô hình hiệu quả.
Một số quy định pháp luật liên quan vẫn còn chồng chéo, chưa thống nhất, đặc biệt giữa Luật Hôn nhân và Gia đình và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, gây khó khăn trong áp dụng. Cơ chế phối hợp liên ngành ở một số nơi chưa chặt chẽ, dẫn đến chậm phát hiện, chậm xử lý vụ việc. Công tác thống kê, chia sẻ dữ liệu chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến việc đánh giá và hoạch định chính sách.
Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Kim Dung, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Công tác phụ nữ - Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho rằng, phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ không có thu nhập ổn định, phụ nữ ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa thường ở vị thế yếu hơn trong việc tiếp cận thông tin pháp luật, thu thập chứng cứ và sử dụng các dịch vụ pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tâm lý e ngại, sợ kỳ thị của người bị bạo lực gia đình vẫn còn phổ biến, nhất là với các hình thức bạo lực tinh thần, kinh tế, tình dục khó nhận diện và chứng minh.
Theo Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện, để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống bạo lực gia đình trong thời gian tới, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các luật liên quan; tăng cường giám sát việc thực thi, gắn trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu các cấp, các ngành.
Bên cạnh đó, cần bảo đảm nguồn lực ổn định cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình, ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở; duy trì và nhân rộng các mô hình can thiệp cộng đồng hiệu quả; xây dựng và vận hành hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình, kết nối liên thông với các lĩnh vực dân cư, tư pháp, an sinh xã hội.
Đặc biệt, cần đẩy mạnh truyền thông thay đổi hành vi, giáo dục kỹ năng ứng xử trong gia đình, gắn phòng, chống bạo lực gia đình với các chương trình xây dựng gia đình hạnh phúc, bình đẳng giới và phát triển bền vững.
Những kết quả đạt được thời gian qua là nền tảng quan trọng, song để hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh, công tác này cần tiếp tục được quan tâm, đầu tư và triển khai quyết liệt, hiệu quả hơn trong thời gian tới. Liên quan đến vấn đề hoàn thiện thể chế, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú khẳng định, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc tham mưu cấp có thẩm quyền hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình với những vấn đề mang tính “điểm nghẽn”, rào cản cho sự phát triển của phụ nữ.











