Bảo tồn các giếng Chăm cổ
Sự tồn tại của các giếng Chăm cổ ở Đà Nẵng là chứng tích trực quan thể hiện quá trình giao lưu, hòa trộn các dòng chảy văn hóa trong lịch sử. Kỹ thuật đào giếng, tìm mạch nước tốt cùng hệ thống giếng của người Chăm là di sản văn hóa quý giá. Việc quan tâm, bảo tồn các giếng này không chỉ phục vụ nghiên cứu, khảo cổ và tìm hiểu về văn hóa Chăm cổ, mà còn góp phần tạo cảnh quan, điểm đến du lịch cho thành phố.
Giếng Lăng nằm trong cụm di tích Nam Ô (phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu). Ảnh: XUÂN DŨNG
Lưu giữ dấu tích xưa
Theo Phòng Quản lý di sản văn hóa (Bảo tàng Đà Nẵng), qua kết quả khảo sát sơ bộ, hiện trên địa bàn thành phố còn 7 giếng Chăm được bảo tồn tương đối nguyên vẹn, phân bố tại quận Hải Châu, Cẩm Lệ, Liên Chiểu và huyện Hòa Vang. Trước đây, thành phố có nhiều giếng Chăm khác, nhưng đến nay, các giếng này chỉ còn tên gọi và không còn nhiều dấu tích do quá trình san lấp, đô thị hóa.
Nhìn chung, các giếng Chăm tại Đà Nẵng cũng giống ở các địa phương khác, có thể chia làm 3 loại, gồm: giếng mở, giếng nửa mở (giếng bộng) và giếng đóng. Trong đó, giếng đóng là loại phổ biến nhất, nằm trong khu dân cư. Những giếng Chăm này thường có hình vuông, được lát gạch hay đá tùy nguồn nguyên liệu của địa phương.
Điểm đặc biệt của các giếng Chăm là có nguồn nước tốt và sạch, ngọt mát vào mùa hè, ấm áp lúc vào đông. Trải qua hàng trăm năm, nguồn ở nước các giếng này vẫn luôn dồi dào, kể cả mùa nắng hạn và thi thoảng được người dân sử dụng trong các dịp sinh hoạt tâm linh của làng hoặc sinh hoạt cá nhân.
Trong số những giếng Chăm vẫn còn hiện nay, có 4/7 giếng nằm ở khu vực Nam Ô (quận Liên Chiểu). Từ số lượng này, một số nhà nghiên cứu trên địa bàn phỏng đoán, trước khi trở thành lãnh thổ Đại Việt (và có thể cả sau đó), Nam Ô là một làng Chăm trù phú, có dân cư đông đúc với nghề đánh cá, chế biến mắm cái và cả việc buôn bán nước ngọt cho các thuyền buôn quốc tế.
Theo ông Đặng Dùng (người Nam Ô, có nhiều năm nghiên cứu văn hóa làng mình), điểm đặc biệt của giếng Chăm là ngay cả ở những giếng sát gần biển cũng đem lại dòng nước ngọt lành. Nổi bật trong đó như giếng Lăng ở Nam Ô, chỉ cách mép biển khoảng 50m. Đây là giếng có vị trí sát mép biển nhất trong tất cả các giếng Chăm được khảo sát tại Việt Nam.
“Hiện nay, giếng này không còn được sử dụng để sinh hoạt nhưng vẫn là một địa chỉ tâm linh quan trọng của làng Nam Ô nên được người dân quan tâm, giữ gìn. Đây cũng là nơi người dân trong làng thường tập trung vui chơi, hóng mát và sinh hoạt cộng đồng”, ông Dùng chia sẻ.
Bảo tồn, phát huy giá trị
Theo ông Đặng Dùng, với đặc thù sinh sống trên địa bàn có thiên nhiên khắc nghiệt miền Trung, thường xuyên bão lụt, nên việc tìm các mạch ngầm nước ngọt cùng kỹ thuật khai thác nó để phục vụ cho cuộc sống của mình là một trong những kỹ năng tuyệt vời của người Chăm xưa. Các cao niên trong làng kể lại, người Chăm xưa tìm mạch nước để đào giếng bằng cách đặt một tờ giấy dưới chiếc chén úp xuống và để qua đêm.
Nếu ngày mai, tờ giấy dưới chén ướt thì nơi đó có mạch nước ngầm. Cách giải thích có thể đúng bởi thời xưa không có công cụ dò tìm hiện đại, song vẫn chưa được khẳng định. Vì vậy, nếu có một nghiên cứu trả lời trả lời điều này sẽ góp phần mở rộng thêm hiểu biết về văn hóa Chăm. Bên cạnh đó, cần có biện pháp bảo tồn các giếng Chăm trên địa bàn để lưu giữ di sản văn hóa quý này đến thế hệ sau.
“Chúng tôi mong muốn cơ quan chức năng đưa các giếng Chăm vào diện cần được bảo vệ. Cùng với đó, nhắc nhở người dân giữ vệ sinh môi trường cảnh quan xung quanh và dưới đáy giếng nhằm bảo đảm sự trang nghiêm cũng như phục vụ cho tham quan, nghiên cứu hoặc du lịch”, ông Dùng bày tỏ.
Về giá trị của các giếng Chăm, nhà nghiên cứu Võ Văn Thắng, nguyên Giám đốc Bảo tàng Điêu khắc Chăm cho rằng, những giếng cổ còn lại trong lòng đô thị Đà Nẵng ngày nay cho thấy một sự tiếp nối và giao lưu văn hóa giữa hai nền văn hóa Việt - Chăm; đồng thời, đây còn là những căn cứ, cơ sở để nghiên cứu, khảo cổ và tìm tòi về văn hóa Chăm cổ. Đa số các giếng Chăm ở Đà Nẵng hiện còn lại đều nằm gần sông hoặc biển.
Có thể các giếng này không chỉ phục vụ đời sống cư dân mà còn là nguồn cung cấp nước ngọt cho các tàu bè. Hiện nay, kỹ thuật đào giếng của người Chăm đã bị thất truyền và chưa có một nghiên cứu khoa học nào giải thích cụ thể, tất cả chỉ là truyền miệng từ dân gian. Ngoài ra, việc các giếng Chăm nằm gần sông, biển nhưng không bị nhiễm mặn hay phèn cũng là một dấu hỏi, đang được giới chuyên môn tiếp tục tìm hiểu.
“Để bảo tồn các giếng Chăm, cơ quan quản lý nên thực hiện việc đánh dấu, định danh các giếng này; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền cho nhân dân, nhất về thế hệ trẻ để vận động sự chung tay của cộng đồng ý thức bảo vệ các giếng. Song song đó, có thể đưa các giếng này thành di tích độc lập để dễ xác định, nhận diện trên bản đồ di sản của thành phố”, ông Thắng nói.
Theo Giám đốc Bảo tàng Đà Nẵng Huỳnh Đình Quốc Thiện, giếng làng từ lâu đã là một địa chỉ thân thuộc trong văn hóa Việt Nam. Nhiều cung bậc tình cảm, nhiều sắc màu văn hóa đã lắng đọng ở khung cảnh giếng làng Việt.
Vừa qua, thành phố đã đầu tư trùng tu Cụm di tích Nam Ô với kinh phí hơn 25 tỷ đồng, trong đó có việc bảo tồn nguyên giá trị của giếng Lăng Nam Ô để người dân tiếp tục sử dụng. “Lúc trùng tu giếng Lăng, tôi đề nghị đào sâu cho đến khi thấy thành giếng, rồi mở rộng khuôn viên. Trong thời gian tới, với những giếng cổ khác cũng sẽ được trùng tu như thế, trả lại nguyên trạng, tạo cảnh quan để hình thành một điểm đến phục vụ tham quan du lịch”, ông Thiện cho biết.
7 giếng Chăm
Các giếng Chăm hiện còn lại trên địa bàn thành phố, gồm: giếng Hời, nằm ở góc sân miếu Bà, trong khu Di tích Nghĩa trủng Hòa Vang (phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ); giếng Bộng, nằm trên đường Trưng Nữ Vương (phường Bình Hiên, quận Hải Châu); giếng Trung Sơn, nằm trong Cụm di tích rừng Trung Sơn (xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang). 4 giếng còn lại nằm trên địa bàn quận Liên Chiểu gồm: giếng Hóa Ô (còn gọi là giếng Bà Bang), giếng Đình, giếng Lăng và giếng Thành Trạm (đều nằm ở phường Hòa Hiệp Nam).
Nguồn Đà Nẵng: http://www.baodanang.vn/channel/5414/202211/bao-ton-cac-gieng-cham-co-3929592/












