Bác Hồ với dân chủ và bài học về đạo đức cách mạng
Xuân Bính Ngọ 2026 là một mùa xuân đặc biệt, gắn với nhiều sự kiện, mốc son lịch sử. Đó là mùa xuân thứ 80 của Quốc hội và Hiến pháp nước Việt Nam mới, là mùa xuân thứ 40 của sự nghiệp Đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, là mùa xuân đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV...
Ôn lại lịch sử cách mạng, chúng ta càng thấm thía những bài học sâu sắc về dân chủ, về cán bộ, về đạo đức làm người, làm cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 6-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bầu cử tại nhà số 10, phố Hàng Vôi, Hà Nội. Ảnh tư liệu
1. Trong “Tuyên ngôn Độc lập”, sau khi phân tích những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của con người, của các dân tộc và quá trình đấu tranh anh dũng của nhân dân ta để giành lấy những quyền ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Ngày 3-9-1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Bác Hồ nói ngắn gọn về chế độ mới, tức chế độ do dân làm chủ: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…" .
Ngày 8-9-1945, Bác ký Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, định hướng cho việc xây dựng Nhà nước mới mà Quốc hội là người đại diện của dân, là cơ quan quyền lực tối cao: “Nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội (Quốc hội) thay mặt là quyền lực tối cao”.
Có thể hình dung được niềm vui của nhà ái quốc Hồ Chí Minh cũng như toàn thể người dân Việt Nam trước ngày được bỏ phiếu bầu Quốc hội đầu tiên của mình: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình” (Hồ Chí Minh, Báo Cứu Quốc số ra ngày 5-1-1946). Trước đó, cán bộ và nhân dân ngoại thành Hà Nội đã gửi lên Chính phủ và Ban Bầu cử một bản kiến nghị suy tôn Hồ Chí Minh là Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam mới và Người không phải qua bầu cử. Nhưng tin dân, trọng dân, thực hiện đúng quy định của pháp luật, Người đã viết thư cảm ơn: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi mà quyết nghị tôi không phải ứng cử trong kỳ Tổng tuyển cử sắp tới. Nhưng tôi là công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đã định”.
Năm 1945-1946, nước ta bị quân Anh, Pháp chiếm đóng dưới danh nghĩa Đồng minh giải giáp quân Nhật nhưng thực chất làm ô che cho quân Pháp và đủ các loại phản động núp bóng. Ngày 23-9-1945, quân Pháp đánh thẳng vào trụ sở Tòa Thị chính Sài Gòn, nơi làm việc của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ và nhiều cơ sở khác của ta, bắt đi nhiều cán bộ và hàng nghìn người dân khác. Và sự kiện Nam Bộ kháng chiến đã trở thành một mốc son lịch sử.
Tổng tuyển cử trong bối cảnh ấy là hết sức khó khăn. Nhiều tờ báo phản động vu cáo Việt Minh, kêu gọi tẩy chay Tổng tuyển cử… Dân ta lúc ấy tuy có 95% mù chữ nhưng có 100% lòng yêu nước, yêu Bác Hồ và cách mạng nên Tổng tuyển cử đã thắng lợi rực rỡ. Hà Nội có 172.765 trong tổng số 187.880 cử tri đi bỏ phiếu, tức 91,95%. Ứng cử viên Hồ Chí Minh có 169.222 phiếu bầu, trúng cử cao nhất với tỉ lệ 98,4%. Nhiều tỉnh phía Nam dù đang trong khói lửa kháng chiến nhưng tỉ lệ cử tri đi bầu vẫn rất cao (Sa Đéc: 93,54%, Bạc Liêu: 90,77%...). Thành công của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên còn thể hiện qua những con số khác minh chứng cho sự bình đẳng, đoàn kết dân tộc: 43% đại biểu không đảng phái, 34 đại biểu người dân tộc thiểu số…
2. Năm 1946, trong trả lời các nhà báo nước ngoài, Bác Hồ nói: "Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…” (Báo Cứu Quốc, số ra ngày 21-1-1946).
Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ trước hết phải chính danh. Thuyết chính danh có nguồn gốc từ Nho giáo. Trong luận bàn với thầy học của mình là Khổng Tử, Tử Lộ hỏi việc cần thiết đầu tiên để trị nước là gì, Khổng Tử đáp ngay: Chính danh. "Danh bất chính, ngôn bất thuận; ngôn bất thuận, sự bất thành”. “Danh” là tên gọi, chức vụ, cương vị của con người, phải xứng với “thực”, tức tài năng, đức độ, bổn phận. Chính danh, với cách mạng, với Bác Hồ có sự kế thừa nhưng đã hàm chứa sự phát triển mới: Làm cán bộ của dân, trong chính quyền mà dân làm chủ (làm chủ thật sự) thì phải được dân bầu, dân lựa chọn. Dân yêu cầu làm thì làm, dân cho lui, muốn lui thì phải lui. Người cán bộ không được coi làm cán bộ là được công danh phú quý, không được vướng vào vòng danh lợi.
Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là của nhân dân lao động và của dân tộc, vì vậy, cán bộ của Đảng cũng là cán bộ của Dân, được cả Đảng và Dân tín nhiệm mới bảo đảm tính chính danh cao; được Dân ủng hộ để hoàn thành tốt nhất sứ mệnh cao cả vì Đảng, vì Dân.
3. Hiến pháp 1946 khẳng định: “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đó chính là mục tiêu bất di bất dịch của cách mạng. Nếu dân không được làm chủ Nhà nước của mình, chế độ mình, thì chế độ ấy không có gì khác trước.
Trên báo Nhân Dân số ra ngày 31-7-1955, Bác Hồ có bài viết đầu đề khẳng định: “Ý Dân là ý Trời”. Trò chuyện với đại biểu nhân dân thành phố Hải Phòng ngày 30-5-1957, Bác Hồ đã nói rất thẳng thắn và dễ hiểu: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”.
Làm đầy tớ, không phải làm quan cách mạng, tức là không được vướng vào vòng danh, lợi. Ai có vẻ như muốn thăng tiến, muốn chạy chức chạy quyền, muốn chức vụ nào có màu mè, quyền lực hơn, thì người đó cần sớm phải loại bỏ trong quy hoạch. Và quy hoạch phải động, không bắt buộc nhất thành bất biến. Ai có tài năng, dù chưa có trong quy hoạch cũng phải được xem xét.
Cán bộ, một mặt phải chịu sự kiểm tra chặt chẽ của dân, của Đảng. Mặt khác phải có lòng tự trọng, như Điều 5, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024 của Bộ Chính trị “về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới” yêu cầu: “Nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên”.
Trong kỷ nguyên mới hay bất cứ thời kỳ nào của lịch sử thì công tác cán bộ, dân với Đảng một lòng, toàn dân tộc một ý chí vẫn là điều kiện quyết định để chúng ta tiến bước thắng lợi.
Đó là mong ước vào xuân, mong ước cho một kỷ nguyên mới thịnh trị, đất nước hùng cường, nhân dân hạnh phúc. Để thế hệ mai sau mãi nhớ về thời đại chúng ta với một niềm tự hào!
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/bac-ho-voi-dan-chu-va-bai-hoc-ve-dao-duc-cach-mang-733957.html












