Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh (1917 - 2014), hành giả một đời nghiêm mật giới đức, đầy định lực và thành tựu trí tuệ; Nhà dịch giả kinh điển Đại thừa của Việt Nam, đồng thời là vị lãnh đạo của Giáo hội.
Để mở đầu bài viết này, tôi xin mượn lời của người sáng lập ra Phân tâm học, Sigmund Freud: 'Không biết bao lần người ta đặt ra câu hỏi con người sống để làm gì. Chưa bao giờ họ nhận được câu trả lời thỏa đáng và có lẽ không chấp nhận một câu trả lời nào. Chúng ta bởi thế sẽ chuyển sang câu hỏi ít tham vọng hơn, đó là bằng hành vi của mình con người thể hiện điều gì là mục đích và ý định của đời họ. Họ đòi hỏi cuộc sống những gì và đã ước muốn đạt được gì trong cuộc sống. Khó có thể nghi ngờ câu trả lời cho câu hỏi này. Họ theo đuổi hạnh phúc, họ muốn trở nên hạnh phúc và mãi được hạnh phúc'.
Phật giáo đến nước Nga vào thế kỷ 17 và được thiết lập vững chắc chủ yếu ở ba vùng lãnh thổ cộng hòa thuộc Nga; đó là Buryatia, Kalmykia và Tuva và có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển văn hóa ở đây.
Sáng nay, 23 tháng chạp, Kỷ Hợi (17-1-2020), Trưởng lão HT.Thích Trí Quảng, Phó Pháp chủ kiêm Giám luật HĐCM, Trưởng BTS GHPGVN TP.HCM đã dẫn đầu đoàn chư tôn đức Tăng đến chùa Vạn Đức - Q.Thủ Đức đảnh lễ trước bảo tháp Đức Đại lão HT.Thích Trí Tịnh, nguyên Đệ nhất Phó Pháp chủ kiêm Giám luật HĐCM, nguyên Chủ tịch HĐTS GHPGVN.
Khi Đức Phật nhập diệt, Ngài có huyền ký rằng giáo pháp Phật sẽ trải qua 500 năm là thời Chánh pháp, 500 năm là thời tượng pháp và 1.000 năm là thời mạt pháp.
Sáng 22-12, chương trình khóa tu Một ngày an lạc tiếp tục được tổ chức tại hội trường Việt Nam Quốc Tự (Q.10, TP.HCM) - VP BTS Phật giáo TP.HCM.
Trong nhiều thời kỳ ở nước ta đã có nhiều vị cao tăng thọ trì kinh Pháp hoa, có lúc Phật giáo được phát triển ở bề nổi, cũng có lúc các bậc cao đức âm thầm truyền bá kinh Pháp hoa.
Những ngôi đền, chùa độc đáo này không chỉ là nơi thực hành tín ngưỡng của các tín đồ tôn giáo mà còn là địa điểm du lịch thu hút nhiều du khách bởi sở hữu kiến trúc độc đáo.
Mặc dù đã trở thành phế tích, song dưới lòng đất của Đồng Dương vẫn còn chứa nhiều giá trị văn hóa – lịch sử
Mục đích của đạo Phật là giải thoát khỏi vô minh để sống hạnh phúc và tạo hạnh phúc cho mọi chúng sanh khác.
Kinh Pháp hoa (法華經, Saddharmapuṇdạrīkasūtra) là một trong những bản kinh phổ biến nhất ở Đông Á. Có nhiều học giả đã và đang nghiên cứu về kinh này. Họ thảo luận về những phát triển phức tạp trong việc hình thành bản kinh hay những chủ đề triết học như quan điểm về nhất thừa (ekayāna), nhưng những nỗ lực này dường như tách ra khỏi ngữ cảnh Phật giáo Ấn Độ. Vì vậy ở đây tôi sẽ cố gắng đặt kinh Pháp hoa vào lại trong dòng chảy Phật giáo Ấn Độ, so sánh những trích dẫn về nó như được thấy nơi những luận giải của những vị thầy Ấn Độ về sau.
Về lịch sử,chúng ta có thể thấy từ Phật giáo Nguyên thủy tiến lên Phật giáo Bộ phái, cho đếnPhật giáo Đại thừa. Vì vậy, Phật giáo Đại thừa được coi là đỉnh cao trí tuệ củađạo Phật. Và khi chúng ta có cái nhìn xuyên suốt về sự diễn tiến của Phật giáonhư vậy thì tất yếu chúng ta cũng nhận thấy tư tưởng Đại thừa phát xuất từNguyên thủy mà phát triển lên.
Đức Phật Thích Ca và mười phương Phật có sự nối kết với nhau, nhưng đây là thế giới Phật, nên chỉ có Phật biết và làm được. Chúng sanh không thể hiểu và không thể làm, nên Phật phải khai pháp môn phương tiện. Suốt một đời thuyết pháp của Phật đều là phương tiện được Phật ví như ngón tay chỉ mặt trăng, đừng chấp vào ngón tay, phải có trí tuệ để tìm thấy chân lý. Chấp ngón tay rơi vào chấp pháp thì làm đạo không thành công.
Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa được tôn kính là chân Hóa thân Đức phật Quan âm Đại từ bi, Ngài là một nhà giáo dục và hoạt động môi trường quốc tế, đồng thời là bậc lãnh tụ tâm linh đứng đầu Truyền thừa Drukpa, truyền thống Phật giáo Đại thừa Kim cương thừa khởi nguồn cách đây 1.000 năm từ thời Đức Naropa ( 1016 - 1100), bậc Đại thành tựu giả trứ danh của Ấn Độ. Chữ Druk trong danh hiệu Drukpa mang nghĩa 'Rồng giác ngộ' và cũng là 'Tiếng sấm'.
Việc hiến tạng và dùng lại những bộ phận mà người hiến mất đi, cũng là sự nhạy cảm, liệu người nhận tạng có cảm nhận được sự linh cảm nào đấy từ người hiến đã mất đi hay không.
Một số bạn đã nhiều năm gõ cửa nhiều chùa, đọc nhiều kinh điển, tunhiều tông phái, và rồi thấy rằng Phật pháp quá mênh mông, như dường học hoàikhông hết. Và rồi bạn chỉ muốn tìm một cuốn sách tiếng Anh duy nhất để đọc, đểnghiền ngẫm ngày này qua ngày kia, nhằm nắm vững tinh yếu Phật pháp để vào cưảgiải thoát. Nếu thế, xin đề nghị bạn hãy tìm đọc tác phẩm 'Essence of theHeart Sutra' (viết tắt: EHS) của Đức Đạt-lai Lạt-ma đời thứ 14.
Theo lịch sử tiến hóa của loài người, từ thời kỳ nguyên thủy, dân số trên trái đất này còn rất ít. Vì thế, sự ưu đãi của thiên nhiên mà con người được thừa hưởng rất lớn. Dĩ nhiên lúc đó, người ta không phải đặt vấn đề đói nghèo, hay vấn đề kinh tế, vì mọi người chỉ sống và hưởng thụ tài sản của thiên nhiên một cách đơn giản.
Trong quá trình hình thành và phát triển, từ Ấn Độ Phật giáo đã được truyền sang các nước lân cận, ra khu vực Á đông và phát triển trên toàn thế giới. Sự phát triển này, được chia theo 2 hướng: về phương Bắc, gọi là Phật giáo Bắc Tông, mang tư tưởng Đại thừa. Về phương Nam, gọi là Phật giáo Nam Tông, mang tư tưởng Tiểu thừa.
Đề tài tôi muốn mang đến cho buổi nói chuyện hôm nay là 'Mười hạnhnguyện của Bồ-tát Phổ Hiền', mà nó cấu thành một chương của kinh Hoa nghiêmvới tên gọi là 'Nhập bất khả tư nghì cảnh giới Phổ Hiền Bồ-tát hạnh nguyện.'
Vô ngã và công bằng xã hôịPhật giáo có hàm chứa khả năng tiềm tàng cho một lý thuyết về công bằng xã hội thích hợp với những nhu cầu của xã hội hiện thời hay không?
Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, trong Phật giáo có thành phần tiến bộ hoạt động theo hướng phát triển là xu thế tất yếu của thời đại. Từ đó mới có Phật giáo phát triển.
Trong Kinh điển Phật giáo Đại thừa, Đức Phật đã chỉ ra những loài động vật mà con người không nên ăn thịt.
Nằm nghiêng bên phải là một trong những đặc điểm quan trọng của tướng Niết-bàn.