Sau 46 năm được khai quật phục vụ nghiên cứu khoa học, đến năm 2010, thi hài vua Lê Dụ Tông được hồi hương an táng tại quê nhà Thanh Hóa
Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.
Năm 2026 này, chúng ta kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc tử giám, ngôi trường đại học đầu tiên của nước ta, nơi ươm mầm cho bao thế hệ nhân tài giúp nước.
Chùa Bình Lâm nằm tại thôn Mường Nam, xã Phú Linh, tỉnh Tuyên Quang. Nơi đây đang lưu giữ Bảo vật quốc gia - Chuông chùa Bình Lâm. Chuông chùa Bình Lâm được coi không chỉ là một pháp khí tôn giáo mà còn là một 'cuốn sử bằng đồng' khẳng định chủ quyền và văn hóa của dân tộc tại vùng biên cương Tổ quốc. Chuông được đúc vào giờ Ngọ, ngày rằm tháng Ba năm Ất Mùi (1295), thuộc đời vua Trần Anh Tông.
Nội dung trong SGK Lịch sử được thiết kế chặt chẽ theo Chương trình GDPT 2018, bảo đảm khoa học, logic lịch sử, phù hợp với tâm lý lứa tuổi HS.
Thời phong kiến, hình luật ngoài quy định 5 mức hình phạt (tức 'ngũ hình', gồm xuy - đánh roi, trượng - đánh gậy, đồ - lao động khổ sai, lưu - đi đày và án tử), còn có thêm các hình phạt bổ sung, như phạt tiền, bắt đền bù cho người bị hại, bãi chức, giáng chức với người có chức vụ, tịch thu tài sản và sung vợ con làm nô tì của nhà nước hay nhà quan.
Sáng 21/12, dòng họ Vũ Tâm Phúc tổ chức lễ kỷ niệm 440 năm họ Vũ Tâm Phúc về định cư tại làng Trung Trữ, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Phủ Thọ Xuân Vương là nơi thờ Nguyễn Phúc Miên Định - vị hoàng tử nổi tiếng trong lịch sử triều Nguyễn với 144 người con, nhiều hơn cả vua cha Minh Mạng.
Trong lịch sử nước ta từng có những người thầy đáng kính trọng, nhiều học trò của những người thầy này trở thành những rường cột nước nhà hay những người được Nhân dân tôn kính. Cùng tìm hiểu về gương sáng những người thầy trong sự nghiệp giáo dục nước nhà từ xưa.
Trong khuôn khổ chuyến công tác tại LB Nga của đoàn đại diện lãnh đạo tỉnh do Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Doãn Anh dẫn đầu, ngày 20/11, Hội nghị Xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch của tỉnh đã được tổ chức tại Trung tâm Hà Nội - Moskva.
Hà Long là vùng đất quý hương, nơi phát tích của vương triều Nguyễn với 9 đời chúa, 13 đời vua. Tự hào là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, cấp ủy, chính quyền và Nhân dân Hà Long luôn quan tâm đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích.
Chiều 15/11, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã dự Lễ tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật điêu khắc ánh sáng 'Sức mạnh của lòng dân' do nghệ nhân Bùi Văn Tự trao tặng Bảo tàng Quốc hội Việt Nam.
Chiều 15-11, tại Nhà Quốc hội, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã dự lễ tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật điêu khắc ánh sáng 'Sức mạnh của lòng dân', do nghệ nhân Bùi Văn Tự trao tặng Bảo tàng Quốc hội Việt Nam.
Chiều 15/11, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã dự Lễ tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật điêu khắc ánh sáng 'Sức mạnh của lòng dân' do nghệ nhân Bùi Văn Tự trao tặng Bảo tàng Quốc hội Việt Nam.
Làng Giảng Võ (Hà Nội) là ngôi làng lớn nhất ở phía Nam của tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức cũ. Đời Vua Lý Anh Tông (1138 - 1175), đã cho lập tại đây Giảng Võ Trường, làm nơi huấn luyện quân sự, võ nghệ, sẵn sàng bảo vệ giang sơn khi nguy biến.
Túng đói và được quan lại dung túng là những nguyên nhân sinh ra trộm cướp từ xưa. Các triều đại quân chủ Việt Nam đã có những biện pháp để phòng ngừa và trừng trị trộm cướp.
Khu thành Lạng Sơn xưa là nơi có khá nhiều súng lớn dùng để bảo vệ tòa thành – trung tâm hành chính của tỉnh qua các triều đại phong kiến Việt Nam. Trong đó súng thần công chế tác đời vua Minh Mạng gắn với lịch sử của tỉnh thời kỳ sau khi thành lập (4/11/1831) là loại có số lượng nhiều nhất.
Đoạn tường Hoàng thành Huế (tường rào vòng thành thứ 2 nằm trong Kinh thành Huế) với kết cấu gạch vồ và đất sét khoảng gần 220 năm tuổi bị sập đoạn dài khoảng 15m vào tối 02/11/2025.
Sau khi phế truất vua Duy Tân, Thực dân Pháp đưa Bửu Đảo là con vua Đồng Khánh lên ngôi, đặt niên hiệu là Khải Định. Vua Khải Định cho đúc tiền đồng, tiền bằng bạc.
Năm 1907, con thứ 8 của vua Thành Thái tên là Nguyễn Phúc Vĩnh San lên ngôi, đặt niên hiệu là Duy Tân. Trong thời gian ở ngôi, vua cho đúc tiền Duy Tân thông bảo. Sách Đại Nam thực lục viết: '[Năm Duy Tân thứ nhất, 1907]... Tháng 9... Đúc tiền đồng Duy Tân 1 đồng ăn 10 đồng'
Ở ngôi được 3 năm, vua Đồng Khánh mất khi con còn nhỏ. Hoàng tử Bửu Lân con vua Dục Đức được tôn lên làm vua, đặt niên hiệu Thành Thái (1889-1907). Trong mấy năm tại vị, vua Thành Thái cho đúc các loại tiền đồng, bạc, vàng.
Sau khi tổng hợp kết quả, Ban tổ chức xác nhận bạn đọc Trần Lê Nam Khánh đã trở thành người chiến thắng tuần thi thứ 23 khi đưa ra câu trả lời chính xác và nhanh nhất trên hệ thống, đồng thời dự đoán sát nhất số người trả lời đúng đáp án.
Vua Nguyễn Cảnh Tông tên là Nguyễn Phúc Ưng Đường, là anh của Nguyễn Giản Tông và Hàm Nghi, lên ngôi ngày 06 tháng 8 năm Ất Dậu (1885), đặt niên hiệu là Đồng Khánh, mất năm 1888. Trong thời gian trị vì, vua Đồng Khánh cho đúc các loại tiền: tiền đồng, tiền bạc và tiền vàng. Bài viết này chúng tôi giới thiệu tiền Đồng Khánh thông bảo đúc bằng đồng.
Sau khi vua Kiến Phúc mất, em ruột là Nguyễn Phúc Ưng Lịch lên ngôi ngày 1 tháng 8 năm 1884. Ngày 1/1 năm Ất Dậu (1885), đặt niên hiệu là Hàm Nghi.
Sau khi vua Tự Đức mất năm 1883, triều Nguyễn rơi vào khủng hoảng trầm trọng do không có người kế vị, quyền lực bị chia rẽ giữa các trọng thần. Trước sức ép và âm mưu bảo hộ của thực dân Pháp, hai hiệp ước Harmand (1883) và Patenôtre (1884) đã đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của nền độc lập Đại Nam. Trong giai đoạn 1883–1885, triều Nguyễn trải qua bốn đời vua chỉ trong hai năm: Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc và Hàm Nghi. Sau sự kiện thất thủ Kinh thành Huế năm 1885, vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết phát động phong trào Cần Vương, nhưng từ đây Đại Nam mất hoàn toàn quyền tự chủ, chỉ còn tồn tại dưới danh nghĩa Nam Triều ở miền Trung.
Ba thoi bạc 1 lạng thời Tự Đức có hình khối chữ nhật, đúc nổi chữ Hán theo kiểu Chân thư. Mẫu thứ nhất khắc 'Tự Đức niên tạo – Tinh ngân nhất lượng', dài 44mm, nặng 37,8gr. Hai mẫu còn lại khắc 'Tự Đức niên tạo – Quan ngân nhất lượng – An Giang', lần lượt có niên hiệu 'Nhâm Tuất' (1862) và 'Quý Hợi' (1863), kích thước khoảng 60mm, nặng hơn 36gr. Các thoi bạc thể hiện kỹ thuật chế tác tinh xảo, phản ánh hệ thống tiền tệ và quản lý ngân khố dưới triều vua Tự Đức.
Đình làng Tú Luông tại phường Tiến Thành, tỉnh Lâm Đồng từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống tín ngưỡng cộng đồng. Không chỉ là nơi thờ cúng linh thiêng, đình còn là chứng nhân lịch sử, trải qua biết bao thăng trầm cùng thời gian.
'Tự Đức năm thứ 21 [1868], mùa xuân, tháng giêng… Định cách thức làm bạc đĩnh (đĩnh 1 lạng theo cách cũ khoảng năm Gia Long một mặt in chữ 嗣德年造 Tự Đức niên tạo, một mặt in chữ tên tỉnh, sau in tên thợ đúc, đĩnh 10 lạng vẫn in chữ Trung bình hiệu)'.
Trong giai đoạn ở ngôi của vua Tự Đức cũng cho đúc khá nhiều tiền vàng và bạc để thưởng công cho các triều thần hay dân có công đặc biệt. Bên cạnh đó các loại thoi bạc, vàng lớn nhỏ các hạng cũng được tiến hành đúc theo các quy định của Triều đình đưa ra nhằm mục đích lưu thông như là một hiện vật mang giá trị lớn.
Sáng 8/10, Ban Quản lý Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia Đình làng Tú luông, phường Tiến Thành (Lâm Đồng) tổ chức Lệ Tế thu.
Sáng 8/10 (ngày 17/8 âm lịch), tại di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia Đình làng Tú Luông, phường Tiến Thành (tỉnh Lâm Đồng), rất đông người dân địa phương và vùng lân cận tham dự Lễ tế thu.
Tiền Mỹ hiệu 4 chữ và 8 chữ thời Tự Đức, dạng tròn lỗ vuông, có gờ viền cạnh và viền lỗ. Mặt trước đúc nổi 4 chữ 'Tự Đức thông bảo' (嗣德通寳) theo lối Chân thư, bố trí đọc chéo. Mặt sau khắc 8 chữ 'Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế thọ' (萬歲萬歲萬萬歲夀) sắp theo vòng và đọc ngược chiều kim đồng hồ, thể hiện lời chúc trường thọ hoàng đế. Kích cỡ lớn: đường kính 51 mm, dày 3 mm, nặng 32,7 g, cho thấy đây là loại tiền mỹ hiệu đúc tinh xảo, giá trị sưu tầm cao.
Tiền mang mỹ hiệu được đúc bằng đồng, có loại 4 chữ, loại 8 chữ như các đời vua trước nhưng số lượng ít hơn.
Lễ hội bơi trải làng Yên Duyên năm 2025 do UBND phường Hoàng Mai tổ chức, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia, tạo nên không khí rộn ràng bên dòng sông quê.
Tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con thứ hai của vua Thiệu Trị, sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1829) lên ngôi (tức vua Nguyễn Dực Tông), đặt niên hiệu Tự Đức (1848-1833). Vua Tự Đức là ông vua trị vì lâu nhất của triều Nguyễn (38 năm). Về chế đúc và lưu thông tiền tệ, vua Tự Đức thừa kế mọi chế độ của vua Minh Mệnh, vua Thiệu Trị và cũng cho đúc các loại tiền: tiền đồng, tiền kẽm, tiền bạc, tiền vàng để lưu thông, đồng thời cũng cho đúc tiền mỹ hiệu.
Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), triều đình ban hành quy định đúc bạc kiểu mới, mỏng hơn, có dấu niên hiệu, năm đúc, tên tỉnh và chữ 'nội thảng'. Mỗi tỉnh (trừ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Ninh Bình) được cấp khuôn đúc bạc 10 lạng và 1 lạng. Bộ Hộ quy định bạc không có dấu đúng chuẩn chỉ lưu hành đến tháng Giêng năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Dân muốn đúc lại phải nộp đơn, trả công thợ. Năm tỉnh Thừa Thiên, Gia Định, Hà Nội, Bình Định, Nghệ An lập sở đúc, quan sở tại quản lý việc đúc bạc.
Đời vua Minh Mệnh cho đúc bạc tròn, nhưng số lượng ít. Đời vua Thiệu Trị tiếp tục đúc bạc tròn, đa dạng hơn nhiều. Bạc tròn đời vua Thiệu Trị có 2 loại: Có lỗ vuông như tiền đồng và không có lỗ. Bạc tròn đúc ra vừa để lưu thông, nhưng cũng có thể dùng làm tiền thưởng. Bạc tròn đời vua Thiệu Trị có hai đặc điểm: có những hình tượng đẹp như con rồng bay lượn trên mây- long vân khế hội, nhật nguyệt tinh vân… Đồng bạc tròn Thiệu Trị được coi như là những tác phẩm nghệ thuật.
'Từ làng Yên Hoạch (nay là tổ dân phố Tân Cộng, phường Đông Sơn), đứng ở trên đỉnh núi Nam có thể nhìn thấy ở phía Bắc là dãy Phượng Hoàng (Rừng Thông) vẫy cánh; dõi nhìn về phía Tây là dãy Ngàn Nưa hùng vĩ chắn ngang dải đồng bằng của xứ Thanh như một bức tường thành đồ sộ, nhìn về phía Đông là dãy Cánh Tiên – Hàm Rồng thơ mộng, thậm chí, còn thấy núi Dàn, núi Ninh, núi Vọng Phu cảm giác gần trong gang tấc' (Phạm Tấn). Cảnh trí thơ mộng ấy không phải mảnh đất nào cũng may mắn có được.
Vua Thiệu Trị (1841 - 1847) là vị hoàng đế thứ ba của triều Nguyễn. Trong thời gian trị vì, nhà vua tiếp nối chính sách của vua Minh Mạng, đồng thời có những cải cách riêng. Về tiền tệ, Thiệu Trị cho phát hành tiền đồng gọi là Thiệu Trị Thông Bảo. Loại tiền này được đúc bằng đồng, hình tròn, giữa có lỗ vuông theo truyền thống 'tiền cổ phương trung' của Á Đông, vừa thuận tiện xâu thành chuỗi, vừa mang ý nghĩa trời tròn đất vuông.
Khác với vua Minh Mệnh, tiền đời vua Thiệu Trị có các mỹ hiệu tán dương triều đại, nhưng không lưu thông, không dùng để ban thưởng mà chỉ để lưu trữ trong kho. Loại tiền này được đúc một đợt vào tháng 2 năm Bính Ngọ, năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Tất cả có một vạn đồng chia ra làm 40 thứ (17 thứ có mỹ hiệu 4 chữ, 23 thứ có mỹ hiệu 8 chữ).
Năm Minh Mệnh thứ 7 [1826], mùa hạ, tháng 5… Quan Bắc Thành tâu rằng bạc đĩnh có 6 hạng là để dùng cho tiện, mang cho nhẹ; nhưng từ 1 đồng cân đến 5 đồng cân, dân gian ít người muốn đúc dùng. Xin cho từ nay nhân dân mang bạc đến cục Bảo tuyền để đúc, thì đại ước cứ mỗi suất 500 lạng thì 350 lạng cho đúc đĩnh 10 lạng, 100 lạng đúc đĩnh 1 lạng và 50 lạng đúc cho đĩnh từ 1 đồng cân đến 5 đồng cân. Vua y lời tâu, rồi lại nghĩ số bạc hàng trăm thì người tài sản bậc trung không thể đủ được, lại hạ lệnh rằng dân có muốn đúc thì cho được tùy tiện, không phải viện lệ bắt theo' Ngày nay, thoi bạc 10 lạng phát hiện được các loại sau...
Bạc tròn thời Minh Mệnh có hai loại: loại có lỗ vuông như tiền đồng và loại không lỗ, trong đó loại không lỗ được đúc nhiều hơn. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), triều đình đúc kim tiền và ngân tiền Phi long với quy cách vàng và bạc rõ ràng. Bạc tròn có nhiều kích cỡ, được đúc qua nhiều đợt. Một số tiêu biểu gồm: Minh Mệnh thông bảo - Phi long, mặt trước khắc bốn chữ, lưng là hình rồng bay; Minh Mệnh thông bảo - Long văn, mặt tiền có hoa văn tinh xảo, lưng tiền trang trí rồng và mặt trời; Phi long thập tam (1832), lưng tiền có rồng năm móng và chữ 'Thập tam'; Phi long thập tứ (1833), đúc theo công thức pha kim loại mới, lưng khắc rồng cùng chữ 'Thập tứ'; và Phi long thập ngũ (1834), tương tự nhưng có chữ 'Thập ngũ'. Những đồng bạc tròn này không chỉ mang giá trị lưu thông mà còn thể hiện kỹ nghệ tinh xảo, tư tưởng đề cao vương quyền và biểu tượng rồng thiêng của triều Nguyễn.