Sản xuất công nghiệp năm 2025 tăng 9,2%, mức cao nhất trong 7 năm qua
Năm 2025, sản xuất công nghiệp bứt phá với IIP ước tăng 9,2%. Riêng quý 4/2025 tăng 9,9% nhờ nỗ lực đẩy mạnh cung ứng hàng hóa cuối năm. Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ lực khi tăng 10,5%, đóng góp lớn vào mức tăng chung. Kết quả này cùng sự khởi sắc của chỉ số tiêu thụ và lao động đã khẳng định xu hướng tăng trưởng tích cực của toàn ngành…

Sản xuất công nghiệp năm 2025 tăng 9,2%, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ lực.
Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chiều 05/01/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý 4/2025 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, IIP ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,2%), là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay.
Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,7% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8% (năm 2024 tăng 10,6%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 0,5% (năm 2024 giảm 6,3%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP các năm 2021-2025 của một số ngành công nghiệp trọng điểm (%). Nguồn: Cục Thống kê.
Báo cáo của Cục Thống kê cũng cho biết chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng cao so với năm 2024, gồm: sản xuất xe có động cơ tăng 22,0%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,7%; sản xuất kim loại tăng 15,4%; sản xuất trang phục tăng 13,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 12,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 11,1%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,0%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 10,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 9,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,3%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp hoặc giảm là khai thác than cứng và than non tăng 2,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 2,5%.
Về bức tranh sản xuất tại các địa phương cũng cho thấy sự tích cực khi chỉ số IIP năm 2025 so với năm 2024 tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành sản xuất và phân phối điện, ngành khai khoáng tăng thấp hoặc giảm.

Tốc độ tăng/giảm IIP năm 2025 so với năm trước của một số địa phương. Nguồn: Cục Thống kê.
Về sản phẩm công nghiệp chủ lực, Cục Thống kê ghi nhận năm 2025 tăng cao so với năm trước, dẫn đầu là ô tô tăng 39,1%; tiếp đến thép cán tăng 17,6%; tivi tăng 17,4%; thức ăn cho thủy sản và quần áo mặc thường cùng tăng 13,8%; xi măng tăng 13,6%; giày, dép da tăng 13,3%; thủy hải sản chế biến tăng 11,1%; phân hỗn hợp NPK tăng 10,7%.
Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với năm trước là khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 5,6%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 1,0%; bột ngọt giảm 0,2%.
Đối với chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2025, báo cáo của Cục Thống kê cho biết giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9% so với năm 2024 (năm trước tăng 11,4%).
Về chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2025 tăng 6,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 10,4%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2025 là 81,1% (năm 2024 là 77,1%).
Liên quan đến số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2025, báo cáo của Cục Thống kê ghi nhận tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2% và giảm 0,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,8% và tăng 0,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,0% và tăng 3,3%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và tăng 2,4%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 2,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4% và tăng 0,7%.











