Phố chéo trong thành phố vuông
Trong một đô thị như Hà Nội, những con đường không thẳng tắp, không vuông vắn, hoặc quanh co, không đơn thuần là do thiếu quy hoạch, mà trước tiên là một quá trình thích ứng với thế đất, dáng sông...
Nếu nhìn vào hình thể địa chất Hà Nội qua những bản đồ cũ, ta sẽ thấy có một hệ các con đường chạy theo hướng tây bắc - đông nam, gần như song song với hướng của dòng sông Hồng. Đây chính là những con đường được đắp cao có tác dụng như đê ngăn nước từ nhiều đời. Cứ mỗi lần phù sa bồi đắp, dòng nước rút đi và có xu hướng đổi dòng sang tả ngạn, một vùng đất mới lại được cố định bằng một tuyến đường mới bằng một phương pháp như đắp đê quai.
Ngày nay những tuyến đường có xu hướng chéo đó vẫn còn, bên cạnh tuyến đê sông Hồng được cố định từ năm 1926 và nhiều lần về sau. Chúng ta bắt đầu từ chính những dòng chảy của hệ thống “Nhị Hà từ bắc sang đông, Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này”. Nhiều nghiên cứu đã đưa ra nhận định rằng thực tế các dòng chảy này đều là những đường chia nước của sông Hồng, cũng như các hồ Tây, hồ Gươm và nhiều hồ nhỏ khác cũng là vết tích dòng chảy cũ của con sông mẹ.
Dòng Tô Lịch bắt đầu từ cửa sông ở chợ Gạo, chạy một quãng gần như sát phía nam hồ Tây rồi uốn khúc từ Bưởi xuống phía nam, và từ cầu Giấy đến cống Cót (Yên Hòa) quặt về hướng đông nam, quanh co chừng hơn 10 km trước khi nhập dòng với sông Nhuệ ở Thường Tín. Tại cầu Giấy, trước khi bẻ hướng thì sông Tô Lịch cũng chia nước cho một nhánh là Kim Ngưu. Nhánh sông này cùng nhiều chi lưu như Lừ, Sét và các ao hồ tạo nên một hào nước tự nhiên bên ngoài bức lũy đất (La Thành) chạy suốt phía nam Thăng Long cho đến khu vực ô Đống Mác rồi chảy xuôi xuống phía nam nhập vào túi nước mênh mông vùng Mơ Sét và thông với sông Hồng ở Yên Mỹ - Duyên Hà (huyện Thanh Trì cũ).

Các tuyến phố có dạng đường chéo theo hướng tây bắc - đông nam cùng một số tuyến đê trên cơ sở bản đồ không ảnh Hà Nội năm 1936.
Dòng Kim Ngưu và bức lũy hay được gọi là đê La Thành này là cơ sở cho những con đường và làng mạc phát triển. Ta sẽ thấy trước khi có những con đường thẳng hướng bắc - nam như đường cái quan (đường Lê Duẩn - Giải Phóng ngày nay, tương ứng quốc lộ 1A) hay hai con đường thiên lý (phố Huế - Bạch Mai) và thượng đạo (trục Nguyễn Lương Bằng - Tây Sơn) hướng tâm vào nội thành thì các con đường chéo chính là những bước tiến của người Việt khi định cư tại vùng phía nam kinh thành.
Giữa con đường thiên lý có xu hướng chạy về phía nam và đường đê từ ô Đống Mác chạy về phía đông nam là một khoảng mênh mông của các làng Quỳnh Lôi, Mai Động, Hoàng Mai, Vĩnh Tuy. Một con đường chạy theo hướng tây bắc - đông nam chạy từ bên ngoài cửa ô Cầu Dền đi qua các làng này và tới tận làng Nam Dư ở ven đê, nơi sông Hồng uốn khúc. Ngày nay, dấu vết con đường này là ngõ Quỳnh nối từ số nhà 153 Bạch Mai đến khu vực khu tập thể 8.3, và sau đó là đoạn Tam Trinh - Lĩnh Nam.
Vào triều Lê, con đường thiên lý khi nhập thành ở ô Cầu Dền, được đánh dấu bằng một công trình mang tính quy thức của các triều đại là đàn Nam Giao. Đàn này được xem như kế thừa đàn Viên Khâu đắp từ thời Lý Anh Tông (1154). Con đường này mỗi năm được vua chúa tới hành lễ tế giao vào mùa xuân, đi qua các làng Hòa Mã, Giáo Phường thì nhập vào con đường có dạng đê ở làng Phục Cổ, nay là phố Hàm Long. Con đường này chạy hướng về đông bắc dẫn lối qua phía nam phủ chúa Trịnh để về cửa Đại Hưng, đi qua thôn Hỏa Lò, nay là phố Thợ Nhuộm.
Ngày nay bạn thấy phố Thợ Nhuộm gần như thẳng một hướng với Hàm Long, chỉ gián đoạn khi nối qua một đoạn ngắn phố Bà Triệu, chính là một đoạn đầu con dốc. Con dốc này thực tế chính là dấu tích của đoạn mái đê cổ. Con đê này từng đóng vai trò một bức tường lũy trấn phía nam phủ chúa Trịnh mà đến những tấm bản đồ do quân Pháp lập khi chiếm Hà Nội năm 1883 hiển thị hai ụ quan sát (lunette), một ụ khống chế đường cái quan và một ụ khống chế đường thiên lý, chính là đoạn đầu dốc Bà Triệu - Hàm Long.
Đoạn đường chéo Hàm Long đi về phía đông nam gặp một đoạn đê nơi có các lò mổ, và con đê này dẫn ra cửa ô Đống Mác, nơi có một khu xưởng đúc của dân làng Đại Bái (Bắc Ninh) sang lập nghiệp. Con đường này cũng chạy hướng chéo, song song với đê sông Hồng. Thoạt đầu người Pháp gọi là đường Lò Mổ (Route de l’Abattoir) rồi khi nắn thẳng đường thì gọi chung là Lò Đúc (tên Pháp Armand Rousseau). Cuối cùng trên một khu vực quy hoạch phố Tây phía nam hồ Hoàn Kiếm gồm hầu hết các ô phố hình bàn cờ, một chuỗi đường phố chạy xiên chéo tạo ra một cảnh quan khác biệt.
Người Pháp mặc dù có thừa kế kiểu quy hoạch của Haussmann ở Paris cho Hà Nội như tại các giao lộ ngã năm, ngã sáu hình thành một quảng trường hình tia (ngôi sao) với một công trình lớn án ngữ đón trục không gian, song với tuyến Thợ Nhuộm - Hàm Long - Lò Đúc, họ lại không triệt để khai thác các tuyến chéo này.
Dường như phải đến bản quy hoạch cuối cùng năm 1943 của Louis Pigneau, việc tìm cách phát triển các đường chéo được đặt ra như một kiểu thức tạo ra các trung tâm ngoại vi của Hà Nội, song lần này lại triệt tiêu các đường bao tự nhiên vốn có của vùng sông hồ bao quanh Hà Nội. Tất nhiên quy hoạch này đã không thực hiện được, để lại một số khu vực phát triển dang dở, như khu Việt Nam học xá nằm trong khu Bách Khoa cũ.
Ở đó một con đường chéo dọc một con kênh chia nước từ sông Kim Ngưu, bắt đầu từ ngã tư ô Cầu Dền, chạy theo hướng đông bắc - tây nam, nối xuống đường cái quan trước cửa Bệnh viện Bạch Mai. Con đường mang tên toàn quyền Decoux (mặc dù ông ta còn đang sống khi đó) này đã chỉ còn dấu vết là hai đoạn đường cụt - đê Tô Hoàng và ngõ Cột Cờ (nay là các đoạn ngõ 205 Giải Phóng, 121 và 204 Lê Thanh Nghị) cùng một đoạn phố Trần Đại Nghĩa. Ta có thể vạch một đường thẳng nối các đoạn này với nhau.
Trên cơ sở con đường chéo này, những dãy nhà đầu tiên của Đông Dương Học xá (sau khi Nhật đảo chính Pháp 9.3.1945 đổi tên là Việt Nam học xá) cũng xếp theo hướng đông bắc - tây nam. Đó cũng là công trình công cộng quy mô lớn cuối cùng của Pháp ở Hà Nội.
Quay lại khu vực các phố trong phạm vi vòng la thành, tức đường vành đai 1 ngày nay. Cũng tại ô Cầu Dền, con đường nay là Lê Đại Hành hợp với đê Tô Hoàng thành một cặp đường chéo đối xứng qua đường Đại Cồ Việt. Từng mang tên đại lộ Hoàng Cao Khải, nhiều quy hoạch của người Pháp đã có ý định kéo dài con đường này về phía hồ Bảy Mẫu và nối với một con đê ngăn nước hồ này để rồi nối với đường cái quan. Trục đường này gần như đồng dạng với trục Hàm Long - Lò Đúc. Ngày nay, phố Lê Đại Hành dừng lại ở ngã ba với phố Nguyễn Đình Chiểu, ranh giới phía đông của công viên Thống Nhất còn đoạn đường đê ngăn hồ nước đã thành bờ bắc của hồ Bảy Mẫu.

Phố Lò Đúc năm 1901. Ảnh tư liệu
Phố Lò Đúc là một lớp đê, ngày nay ta còn thấy các ngõ và phố ăn ra phố này có độ dốc xuống thấp hơn như phố Thọ Lão. Bên ngoài lớp đê này là các con đường song song được lập trên cơ sở các đê bành lao (dạng đê ngăn nước quanh các khu bãi bồi) qua nhiều giai đoạn. Từ những bản đồ các thời kỳ ta có thể vẽ ra một con đê cũ đóng vai trò bức lũy bên bờ sông Hồng mà các cửa ô từng mở ra, gồm các đoạn đầu bức lũy từ ô Đống Mác vòng qua nhà máy nước Lương Yên (đoạn đê này đã mất dấu từ thập niên 1930), phố Cảm Hội, Nguyễn Cao, Tăng Bạt Hổ, tại đây qua cửa ô Nhân Hòa cũ nối với Lê Thánh Tông lên tới ô Tràng Tiền rồi chạy gấp khúc theo Lý Thái Tổ, Nguyễn Hữu Huân qua một loạt các cửa ô tới khi gặp các phố Mã Mây, Đào Duy Từ cũng là những con đê quai cũ.
Các con đê này có xu hướng chạy theo đường chéo, xuôi theo thế dòng chảy sông Hồng. Khi phố xá phát triển lấn ra bờ sông, đồng thời dòng sông cũng dịch chuyển về phía tả ngạn, những tuyến đê mới được tạo ra, làm thành lớp phố song song với tuyến cũ, từ Hàng Tre, Hàng Vôi xuống đến khu Đồn Thủy và Lương Yên.
Ngay trong khu vực phố cổ, ta cũng thấy trục chính là Hàng Đào lên Hàng Giấy cũng chạy chéo gần như song song với sông Hồng. Song song với trục này chính là Hàng Cót, Hàng Lược, mà trước đây từng mang tên Cống Chéo, ghi dấu tích dòng sông Tô Lịch chảy qua.
Hàng Cót trường tan, sóng tóc thề
Dâng vào Yên Phụ ngược con đê
Xuôi ra Cống Chéo sang Hàng Lược
Từng dấu bèo theo giạt bến mê
(Vũ Hoàng Chương - Cành mai trắng mộng)
Cho đến cuối thế kỷ XIX, các khu phố phía đông trục này còn những hồ nước lọt giữa các ô vuông là dấu tích còn lại của khúc uốn sông Hồng thông với nhau như hồ Thái Cực (hồ Hàng Đào) thông ra hồ Gươm. Con đường do đó cũng mang chức năng một đê ngăn nước. Trục Hàng Gai, Hàng Bông cũng vậy, từ đây ta thấy các phố đi về phía đông nam có xu hướng dốc, như đoạn cuối Lương Văn Can dẫn ra hồ Gươm hay đoạn đầu Hàng Trống có độ dốc thoải về phía hồ này. Nhìn trên tổng thể, các tuyến phố cổ có xu hướng chạy chéo, song song với trục Hàng Đào khá rõ nét. Các điểm đông dân cư, các khu chợ nằm ở các khu vực cao ráo hơn, ví dụ chợ Cửa Đông (khu vực Hàng Phèn), chợ Đồng Xuân, hay khu phố tập trung người Hoa là Hàng Buồm, nơi có độ cao chênh lệch rõ rệt với phố Nguyễn Siêu hiện nay, vốn là dòng chảy cũ của sông Tô Lịch. Ta có thể nhận định rằng, quá trình hình thành và phát triển đô thị Thăng Long - Hà Nội suốt nhiều thế kỷ thực tế là công cuộc trị thủy bằng đê điều.

Cổng một ngôi nhà trên phố Thợ Nhuộm. Ảnh: NTQ
Hệ thống các con đường đi lại kiêm chức năng đê này có lẽ bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên mạnh nên tính ổn định không cao, cho đến khi công nghệ làm đường cấp phối và kỹ thuật bê tông của người Pháp phổ biến, giúp cố định các tuyến đường cũng như bước đầu vượt qua các rào cản địa chất như các dòng chảy, vùng trũng hay gò đất cao. Tất nhiên dấu tích của kỹ thuật cấp phối đã có ở một số nền móng di tích được khai quật gần đây, song chưa rõ một sự áp dụng rộng rãi, bởi các ghi chép cho thấy các tuyến đường hay đê đều được đắp đất hoặc ken các cọc gỗ. Hơn nữa, đã có một thế kỷ rưỡi hệ thống này đã bị phế bỏ. Năm 1592, sau khi hạ nhà Mạc, Trịnh Tùng cho san bằng các bức lũy La Thành bằng đất từng được đắp dưới thời Mạc Mậu Hợp.
Không rõ có phải vì sự thiếu một hệ thống lũy kiêm chức năng đê vòng trong này mà năm 1630, thời Lê Thần Tông, lũ lụt lớn: “Sông Nhị nước dâng cao, tràn vào phố xá; ngoài cửa Nam, nước chảy như thác, ở trong phố phường mà phải đi thuyền, có nhiều người chết đuối. Đê Thanh Trì vỡ, lúa mất, dân đói” (Đại Việt sử ký toàn thư). Hơn một thế kỷ sau, nhận thấy kinh thành không có tường lũy bao bọc, Trịnh Doanh cho đắp lại La Thành vào năm 1749. Đây chính là tòa thổ thành mà xe cộ đi lại được trên mặt thành mà Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã mô tả trong Thượng kinh ký sự, nhân chuyến lên kinh năm 1782.
*
Nhớ những con đê thành lối xe, bước chân năm tháng đi về, như lời ca của nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã viết, các con đê làm nên diện mạo Hà Nội cho đến tận cuối thế kỷ XX. Những con đường chạy hình chéo nương theo các vết sông nói gì với ta hôm nay?
Đó là một cuộc sinh tồn vừa nương tựa vào thiên nhiên, vừa điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển. Tất nhiên, như Lỗ Tấn nói một cách ẩn dụ, trên mặt đất làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường. Những con đường là kết quả của một quá trình hợp lý hóa và tối ưu hóa hoạt động sống. Nhưng đến thời hiện đại, sau khi đã có thể cải biến không gian tự nhiên thành những con đường vuông vức và dựng nên các khối tích kiến trúc đồ sộ vượt qua những điều kiện từng là thách thức thời trước, các con đường chéo vượt khỏi trật tự chung vừa giữ một ký ức lịch sử, vừa làm nên sự đa dạng cho cảnh quan một đô thị.
Một nhà thơ cũng nhận ra tính chất chéo của một con phố đã kể tới - Thợ Nhuộm. Cái tên của phố nói về lịch sử của phố góp vào không gian phố cổ Thăng Long - Hà Nội xưa, Hàng Buộm Ruộm rồi Thợ Nhuộm. Phố đã chạy chéo với lý do tự nhiên, nhưng nó cũng tình cờ là phố thơ.
Phố Thợ Nhuộm của kinh đô cổ
Cái phố chéo trốn tìm thơ nhỏ
Cái phố như con kênh
Nối tắt hai đại lộ
(Nguyễn Thụy Kha - Phút dừng lại ở phố Thợ Nhuộm)
Rồi một đô thị được quy hoạch toàn bộ là hình ô vuông bàn cờ như khu Manhattan của New York (Mỹ), cũng được một nhà thơ Việt Nam nhận ra, có một con đường chéo.
tôi đã gặp em, Nàng Chéo
ở Broadway
con đường duy nhất chạy xiên chéo
trong cả khu Manhattan ngang dọc bàn cờ
(Dương Tường – A-mơ-ri-cơ)
Trong một đô thị như Hà Nội, những con đường không thẳng tắp, không vuông vắn, hoặc quanh co, không đơn thuần là do thiếu quy hoạch, mà trước tiên là một quá trình thích ứng với thế đất, dáng sông. Năm 1939, ở làng Hoàng Mai phía nam Hà Nội, Nguyễn Bính viết về một thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, những thứ đã làm nên sinh sắc cho đời sống văn hóa, cho một phần hồn đô thị. Những con đường nối các làng thôn hay chợ búa, phố phường, trước khi có con mắt duy lý cơ học, đã có con mắt thuận tự nhiên. Ở vào một thời đã qua, chúng là con đường nối phố với sông, nối những con người với nhau, từ Đông sang Đoài khi mà “thôn Đoài cách có một thôi đê”. Ở đấy, có một Hà Nội của vết dấu những lộ trình của những thực hành văn hóa, luôn mềm mại như phố trong sông.
Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/pho-cheo-trong-thanh-pho-vuong-53597.html
